Điểm số cao chưa chắc đồng nghĩa với chất lượng cao
Đây là chỉ số phản ánh sâu sắc hành vi học tập và chất lượng giáo dục, cần được công khai như một thông lệ chính thức.

Giáo viên hướng dẫn học sinh lớp 12 tại TP.HCM đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT năm 2026
Ảnh: Đào Ngọc Thạch
Thực tế cho thấy điểm số cao chưa chắc đồng nghĩa với chất lượng cao. Nhiều địa phương đạt điểm trung bình ấn tượng, nhưng phần lớn học sinh (HS) lại tập trung vào những môn dễ đạt điểm, trong khi các môn có độ phân hóa cao như ngoại ngữ hay khoa học tự nhiên (KHTN) có tỷ lệ dự thi thấp. Khi đó, điểm số không còn phản ánh đầy đủ năng lực HS mà bị chi phối bởi chiến lược lựa chọn môn thi.
Vì thiếu dữ liệu về tỷ lệ chọn môn nên việc so sánh giữa các địa phương dễ rơi vào tình trạng khập khiễng. Năm 2025 là một ví dụ điển hình: Nghệ An đạt điểm trung bình 6,52, xếp thứ 1; Hà Tĩnh 6,48, xếp thứ 2; Thanh Hóa 6,31, xếp thứ 7; trong khi TP.HCM đạt 6,29, xếp thứ 8. Nếu chỉ nhìn vào thứ hạng, có thể cho rằng các địa phương đứng trên có chất lượng giáo dục cao hơn TP.HCM. Tuy nhiên, TP.HCM lại có tỷ lệ HS chọn tiếng Anh và các môn KHTN cao hơn đáng kể, đồng nghĩa với việc HS phải đối mặt với đề thi có độ khó và tính phân hóa cao hơn. Vì vậy, điểm số chỉ có ý nghĩa khi được đặt trong tương quan với tỷ lệ chọn môn; nếu tách rời, mọi kết luận đều thiếu cơ sở khoa học.
Tâm lý "chọn an toàn để đỗ"
Một vấn đề đáng lo ngại hơn là việc lựa chọn môn thi đang tác động ngược trở lại mục tiêu giáo dục. Chương trình GDPT mới hướng tới phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực, nhưng trong thực tế, tâm lý "chọn an toàn để đỗ" lại chi phối mạnh mẽ quyết định của HS. Hệ quả là HS có xu hướng né tránh môn khó, ưu tiên môn dễ; nhà trường và địa phương cũng vô hình trung chạy theo thành tích; từ đó làm lệch hướng mục tiêu giáo dục ngay từ khâu lựa chọn môn học.
Khi việc học bị dẫn dắt bởi thi cử, mục tiêu phát triển toàn diện khó được thực hiện trọn vẹn. Điều này thể hiện rõ qua số liệu tại Hội thảo khoa học về giáo dục STEM ngày 21.3, Bộ GD-ĐT cho biết có khoảng 60 - 65% HS lựa chọn tổ hợp khoa học xã hội (KHXH) để học ở cấp THPT. Sự mất cân đối này kéo dài sẽ dẫn đến thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực KH-CN và kỹ thuật, đi ngược yêu cầu phát triển của kỷ nguyên vươn mình.
Trong bối cảnh như trên, việc công khai tỷ lệ các môn tự chọn không nhằm phê phán hay tạo áp lực cho địa phương, trường học mà để nhìn thẳng vào thực tế. Dữ liệu này giúp nhận diện rõ hành vi học tập của HS, phát hiện xu hướng trong lựa chọn và từ đó đánh giá đúng bản chất chất lượng giáo dục. Đây chính là "tấm gương" phản chiếu trung thực hơn so với các bảng điểm đơn thuần.

Xu hướng lựa chọn môn thi của thí sinh thi tốt nghiệp trong 2 năm 2025 và 2026
ảnh: Bộ GD-ĐT
MINH BẠCH GIÚP CẢI TIẾN TỪ BÊN TRONG
Khi dữ liệu được minh bạch, xã hội sẽ hiểu đúng hơn về kết quả thi; nhà quản lý có thêm căn cứ để điều chỉnh chính sách; còn các địa phương buộc phải nhìn lại chiến lược giáo dục của mình. Quan trọng hơn, minh bạch dữ liệu tạo ra một áp lực tích cực, thúc đẩy cải tiến từ bên trong thay vì chạy theo thành tích bề nổi.
Ở tầm vĩ mô, tỷ lệ chọn môn còn là công cụ dự báo quan trọng. Nếu HS ít chọn ngoại ngữ, cần xem lại cách dạy, học và thi môn này. Nếu các môn KHTN ít được lựa chọn, đó là dấu hiệu cảnh báo thiếu hụt nguồn nhân lực STEM trong tương lai. Ngược lại, khi HS tập trung quá nhiều vào một nhóm môn, nguy cơ mất cân đối nhân lực sẽ gia tăng. Khi đó, dữ liệu không chỉ là thống kê, mà trở thành cơ sở để hoạch định và điều chỉnh chiến lược phát triển quốc gia.
Trong xu hướng chuyển từ "dạy cái gì" sang "phát triển năng lực gì", minh bạch dữ liệu là yêu cầu tất yếu. Công khai tỷ lệ chọn môn không làm xấu đi hình ảnh giáo dục, mà ngược lại góp phần củng cố niềm tin xã hội và tạo động lực cải cách. Đây cần được xem là bước đi không thể né tránh.
Đã đến lúc việc công bố tỷ lệ HS chọn các môn tự chọn ở các địa phương trở thành thông lệ hằng năm, đi kèm với công bố điểm thi và được phân tích sâu theo từng địa phương, từng trường học. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể trả lời một cách trung thực câu hỏi: Giáo dục đang phát triển thực chất hay chỉ đẹp trên bảng điểm?
Năm 2026, các môn KHXH vẫn chiếm ưu thế áp đảo
Cơ cấu lựa chọn môn thi năm 2026 mà Bộ GD-ĐT công bố chiều qua (6.5) cho thấy các môn KHXH vẫn chiếm ưu thế áp đảo. So với năm 2025, lịch sử dẫn đầu và tiếp tục tăng (42,85% lên 46,64%), trong khi địa lý đứng thứ hai nhưng giảm (42,4% xuống 36,67%). Giáo dục kinh tế và pháp luật xếp thứ tư và tăng nhẹ (21,22% lên 23,27%).
Ở nhóm môn KHTN và công nghệ, vật lý tăng từ 30,4% lên 31,84%; công nghệ nông nghiệp tăng từ 1,88% lên 2,54%; công nghệ công nghiệp tăng từ 0,21% lên 0,6%; tin học tăng từ 0,66% lên 1,53%. Ngược lại, hóa học giảm từ 21,17% xuống 20,75%, và sinh học giảm từ 6,24% xuống 5,74%. Riêng môn ngoại ngữ, không ngoài dự đoán của dư luận, giảm khá rõ, từ 31,32% xuống còn 28,39%.
Bình luận (0)