Tiếng vọng đại ngàn của bộ cồng chiêng Kơ Đơ

Giữa không gian tĩnh lặng của Bảo tàng Pleiku, 8 chiếc cồng chiêng xếp ngay ngắn trên giá gỗ. Lớp màu nâu đen phủ trên bề mặt đồng không chỉ là dấu vết của thời gian mà còn giống một cuốn ký ức lặng im, lưu giữ hơi thở của nhiều thế hệ người Jrai.

Đó là bộ cồng chiêng Kơ Đơ vừa được công nhận là Bảo vật quốc gia. Với người Tây nguyên, đây không đơn thuần là một nhạc cụ cổ. Mỗi tiếng ngân của bộ chiêng như chở theo câu chuyện về quyền lực, tín ngưỡng, đời sống cộng đồng và những lớp trầm tích văn hóa hình thành qua hàng thế kỷ.

Nơi tiếng chiêng gắn với vận mệnh dòng tộc

Câu chuyện của bộ cồng chiêng Kơ Đơ bắt đầu từ những lối mòn xuyên đại ngàn cuối thế kỷ 19. Thời điểm đó, vùng Pleiku cùng dải đất Krông Pa - Cheo Reo còn là nơi các thủ lĩnh Jrai có sức ảnh hưởng lớn. Muối khi ấy là thứ hàng hóa quý giá được đưa từ vùng duyên hải Phú Yên vượt núi lên cao nguyên theo những tuyến đường độc đạo. Người kiểm soát các tuyến giao thương ấy nắm trong tay quyền lực không nhỏ.

Tiếng vọng đại ngàn của bộ cồng chiêng Kơ Đơ- Ảnh 1.

Cồng chiêng tạo nên sự đặc sắc trong văn hóa của các dân tộc thiểu số Tây nguyên

ẢNH: TRẦN HIẾU

Rơlan Sa Gâm là một thủ lĩnh như vậy. Ông không chỉ kiểm soát tuyến buôn muối huyết mạch mà còn xây dựng mạng lưới liên minh trải rộng từ phía đông đèo Tô Na sang tận Lào và Campuchia. Trong khối tài sản đồ sộ của dòng họ Rơlan, bộ cồng chiêng Kơ Đơ được xem như vật báu quý giá hơn cả đàn trâu bò hay những chiếc ché cổ. Nó tượng trưng cho vị thế, phúc phần và sức mạnh của cả dòng tộc.

Người con trai Nay Nui kế thừa vị thế của cha, trở thành một thủ lĩnh nổi tiếng vùng Ayun - Apa nửa đầu thế kỷ 20. Khi kết hôn với bà Rcom H'Blion theo tục mẫu hệ của người Jrai, ông Nay Nui mang theo trâu bò, nhiều ché quý cùng bộ chiêng Kơ Đơ về nhà vợ. Từ đó, bộ chiêng trở thành tài sản thiêng liêng của gia đình bà Rcom H'Blion.

Bà Rcom H'Blion qua đời, để lại bộ chiêng cho con gái là bà Rcom H'Blon. Chồng của bà Rcom H'Blon là ông Siu Banh, người phụ tá trung thành của Pơtao Apui (Vua Lửa) thứ 13. Trong những nghi lễ cầu may, chúc phúc do Vua Lửa thứ 13 Siu Nhót và Vua Lửa thứ 14 Siu Luynh chủ trì, tiếng chiêng Kơ Đơ đã từng vang lên giữa không gian linh thiêng. Đó là chi tiết hiếm gặp trong lịch sử cồng chiêng Tây nguyên. Bộ chiêng này từng hiện diện trong các nghi lễ tín ngưỡng gắn với thiết chế Pơtao - một trong những biểu tượng văn hóa huyền bí nhất của người Jrai.

Năm 1997, gia đình bà Rcom H'Blon đã trao tặng bộ chiêng cho Bảo tàng tỉnh Gia Lai (nay là Bảo tàng Pleiku). TS Nguyễn Thị Kim Vân, người có công lớn trong việc sưu tầm bộ chiêng, cho biết: "Giá trị của chiêng Kơ Đơ trước hết nằm ở vai trò của nó trong không gian văn hóa cồng chiêng Tây nguyên - di sản gắn với đời sống tín ngưỡng, lễ hội và sinh hoạt cộng đồng của các dân tộc. Đó còn là sản phẩm của một giai đoạn lịch sử khi các thủ lĩnh không chỉ có ảnh hưởng ở vùng cao nguyên mà còn có quan hệ rộng với cả khu vực Lào và Campuchia".

Vũ trụ âm thanh giữa đại ngàn

Mỗi chiếc chiêng Kơ Đơ nặng từ vài kg đến 20 kg. Riêng chiếc Sar, lớn nhất trong bộ, có đường kính 83 cm, nặng đúng 20 kg. Tổng trọng lượng cả bộ hơn 55 kg đồng thau, được đúc thủ công bằng hợp kim gồm đồng, bạc, thiếc và chì theo những tỷ lệ bí truyền. Đến nay, ngay cả những nghệ nhân chỉnh chiêng giàu kinh nghiệm cũng chỉ có thể phỏng đoán kỹ thuật chế tác của người xưa.

Tiếng vọng đại ngàn của bộ cồng chiêng Kơ Đơ- Ảnh 2.

Cán bộ Bảo tàng Pleiku giới thiệu về bộ cồng chiêng Kơ Đơ

ẢNH: TRẦN HIẾU

Bộ Kơ Đơ gồm 2 chiếc cồng có núm là Mong ching và Pduk ching; 5 chiếc chiêng bằng không núm gồm Dai Hleng, Dai Kõh, Tnăh Kõh, Tnăh Hleng, Tnăh Phun, cùng 1 chiếc Sar đóng vai trò nền âm thanh. Mỗi chiếc mang một cái tên riêng, một vị trí riêng trong bản nhạc và một kỹ thuật diễn tấu riêng biệt. Thiếu một chiếc, cả bộ mất đi tính chuẩn xác vĩnh viễn.

Điều khiến giới nghiên cứu chú ý nằm ở cấu trúc âm thanh độc đáo. Dù có 8 chiếc nhưng bộ Kơ Đơ vận hành trên bốn nốt chủ đạo gồm rê, la, si và mi; những nốt còn lại được tạo thành bằng cách thay đổi quãng tám. Cồng lớn Pduk ching và chiếc Tnăh Phun giữ vai trò điều phách, trong khi nhóm chiêng bằng đảm nhiệm phần dẫn dắt giai điệu. Các lớp âm thanh hòa quyện vào nhau tạo thành những tầng âm đan xen, lúc sâu lắng như tiếng nước chảy dưới khe đá, lúc dồn dập như tiếng sấm đầu mùa vọng giữa núi rừng.

Nghệ nhân ưu tú Nay Phai, người nổi tiếng trong lĩnh vực chỉnh chiêng ở Tây nguyên, cho biết: "Bộ chiêng Kơ Đơ tôi từng tiếp xúc luôn thuộc về những gia đình giàu có và quyền lực nhất. Âm sắc của chiêng trầm ấm và ngân vang theo cách mà kỹ thuật hiện đại khó lòng tái tạo".

Theo nghệ nhân Nay Phai, để chỉnh được một bộ chiêng như vậy đòi hỏi khả năng cảm âm bẩm sinh cùng nhiều năm kinh nghiệm. "Chiêng bằng dùng dụng cụ kim loại cạo gọt bề mặt, còn cồng có núm thì dùng gỗ mềm gõ nhẹ hoặc đắp sáp ong lên núm để điều chỉnh cao độ. Chỉ cần sai lệch rất nhỏ, âm thanh có thể thay đổi hoàn toàn", ông nói.

Khi bảo vật bước ra khỏi tủ kính

Năm 2005, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây nguyên được UNESCO ghi danh là Kiệt tác truyền khẩu và Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Sự ghi nhận ấy không chỉ dành cho nhạc cụ mà còn dành cho hệ thống tri thức, tín ngưỡng và thực hành văn hóa của các cộng đồng cư dân nơi đại ngàn Trường Sơn. Trong hệ thống đó, bộ cồng chiêng Kơ Đơ là một mắt xích đặc biệt. Người Jrai quan niệm mỗi cái cồng, cái chiêng đều có một vị thần trú ngụ bên trong. Chiêng càng cổ, thần càng mạnh. Vì thế, Kơ Đơ không phải là nhạc cụ đơn thuần mà là "linh vật" trong sinh hoạt tín ngưỡng, chỉ được đánh lên trong những nghi lễ tốt lành: lễ cưới, mừng nhà mới, cầu sức khỏe… và tuyệt đối không dùng trong tang ma hay lễ bỏ mả.

Sự phân biệt đó phản ánh một thế giới quan nhất quán và sâu sắc về mối quan hệ giữa âm thanh, không gian và cõi thiêng liêng. Giá trị của bộ Kơ Đơ được công nhận ở cấp độ Bảo vật quốc gia không chỉ bởi tuổi đời hay chất liệu quý hiếm mà còn ở tính nguyên vẹn, độc bản và lịch sử nguồn gốc có thể truy nguyên rõ ràng qua nhiều thế hệ.

Hiện Bảo tàng Pleiku lưu giữ 59 bộ cồng chiêng của người Bahnar và Jrai, trong đó có 13 bộ Kơ Đơ. Tuy nhiên, bộ vừa được công nhận Bảo vật quốc gia vẫn nổi bật bởi chiều sâu lịch sử và giá trị nguyên bản hiếm có. "Hướng phát huy giá trị bộ chiêng sẽ không chỉ dừng ở trưng bày trong phòng kính. Chiêng Kơ Đơ cần trở về với không gian văn hóa sống, nơi tiếng chiêng tiếp tục cất lên với cộng đồng, với thế hệ trẻ người Jrai và với du khách muốn tìm hiểu linh hồn của đại ngàn Tây nguyên", ông Lê Thanh Tuấn, Giám đốc Bảo tàng Pleiku, nói.

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.