Mỗi ngày, trời vừa hửng sáng, những xấp vé số đã theo chân người già, người khuyết tật, người lao động nghèo len qua từng con hẻm, góc phố ở TP.HCM. Có người đi bộ hàng chục cây số mỗi ngày. Có người đứng dưới nắng, có người nép vào mái hiên khi mưa xuống, chỉ mong bán hết vé để có tiền ăn, tiền trọ, tiền thuốc…
Với họ, mỗi tờ vé số bán được mang về khoảng 1.000 đồng tiền công. Nhưng nếu vé ế, khoản thu nhập ít ỏi ấy có thể mất sạch, thậm chí biến thành một món nợ.
Loạt bài Vòng xoáy vé số "mua đứt bán đoạn" và Vòng xoáy đường cùng sinh kế trên Thanh Niên đã ghi nhận những cảnh đời như thế. Đằng sau những xấp vé tồn không chỉ là câu chuyện mưu sinh, mà còn là câu hỏi về cách phân chia lợi ích và rủi ro trong một ngành kinh doanh có quy mô rất lớn.
Và có một thực tế rất đau lòng, có người nghèo bán vé số dạo thành "con nợ". Họ rơi vào vòng xoáy đường cùng sinh kế và chỉ biết… thở than!
Rủi ro của ngành vé số đang dồn về đâu?
Trong hồ sơ tổng kết thi hành Thông tư 75/2013/TT-BTC và dự thảo sửa đổi quy định về kinh doanh xổ số, Bộ Tài chính đánh giá hoạt động xổ số đang tạo việc làm cho khoảng 500.000 người bán vé số thuộc diện chính sách, người nghèo thông qua hệ thống đại lý bán vé số.
Năm 2025, 21 công ty xổ số kiến thiết khu vực miền Nam đạt doanh thu hơn 155.500 tỉ đồng, đóng góp ngân sách gần 52.000 tỉ đồng. Đây là nguồn lực đáng kể phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Bộ Tài chính cũng đã ghi nhận, giai đoạn 2020 - 2024, riêng 21 công ty xổ số miền Nam đã mang về hơn 571.000 tỉ đồng doanh thu trên tổng số gần 649.000 tỉ đồng của cả nước, chiếm tới 88% thị phần. Khu vực này cũng đóng góp gần 188.000 tỉ đồng vào ngân sách nhà nước, chiếm đến 91% tổng số thu toàn ngành.
Nêu ra con số ấy để thấy, quy mô ngành xổ số là không hề nhỏ. Con số lao động liên đới cũng cho thấy vấn đề an sinh đặt ra, cũng không hề nhỏ.
Nhưng thực tế ở cuối chuỗi phân phối, người bán vé số dạo vẫn chật vật với những rủi ro rất cụ thể: vé không bán hết, vé bị mất hoặc hư hỏng, tiền vé chưa thanh toán, tai nạn trên đường mưu sinh và chi phí khám chữa bệnh khi không có nguồn dự phòng.
Điều đáng nói là người bán không phải chủ thể duy nhất chịu áp lực. Các đại lý cấp dưới cũng phải bỏ vốn, xoay vòng công nợ và đối diện nguy cơ tồn vé. Đại lý cấp trên chịu áp lực tiêu thụ, trong khi doanh nghiệp xổ số phải tuân thủ những quy định về phát hành, phân phối và quản lý tài chính.




Nhiều hoàn cảnh bán vé số dạo rất thương tâm, hầu hết họ có cuộc sống cơ hàn
ẢNH: DƯƠNG TRANG
Vì vậy, không thể giải quyết vấn đề bằng cách mặc nhiên quy trách nhiệm cho một phía, càng không thể yêu cầu đại lý phải nhận lại mọi vé số ế bất kể điều kiện giao dịch. Câu hỏi cốt lõi là: trong một chuỗi phân phối có nhiều tầng, vì sao người có khả năng thương lượng yếu nhất lại có nguy cơ phải gánh phần rủi ro lớn nhất?
Theo quy định về kinh doanh xổ số, quan hệ đại lý chính thức được điều chỉnh bằng hợp đồng; các nội dung về giao nhận và trả vé không tiêu thụ hết cũng thuộc phạm vi cần được xác lập. Tuy nhiên, người bán vé số dạo thường nhận vé qua các tầng trung gian, giao dịch bằng lời nói, thiếu chứng từ đối soát. Khi tranh chấp xảy ra, họ khó chứng minh số vé đã nhận, số vé đã trả và khoản tiền thực sự phải thanh toán.
Đó là khoảng trống pháp lý cần được xử lý, thay vì chỉ trông chờ vào sự thương tình của từng đại lý.
Bảo vệ người bán vé số dạo không nên dừng ở những đợt hỗ trợ tự nguyện. Cần chuyển từ cách tiếp cận nhân đạo sang cơ chế an sinh có tiêu chí, nguồn lực và trách nhiệm rõ ràng.
Không thể chỉ trông vào lòng tốt
Người bán vé số dạo không mặc nhiên là người lao động của công ty xổ số hay đại lý theo quan hệ lao động. Nhiều người hoạt động như cá nhân kinh doanh nhỏ lẻ, tự quyết định việc bán hàng và chịu những rủi ro trong giao dịch.
Nhưng không có quan hệ lao động không đồng nghĩa với việc họ không cần được bảo vệ. Khi một lực lượng đông đảo, trong đó có nhiều người cao tuổi, người khuyết tật và người nghèo, tham gia trực tiếp vào khâu phân phối sản phẩm, chính sách cần tính đến đặc điểm và mức độ dễ tổn thương của họ.
Hiện nay, không phải ai cũng có điều kiện tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, duy trì bảo hiểm y tế hoặc dành tiền dự phòng cho những tình huống bất trắc. Trong khi đó, thu nhập phụ thuộc vào sức khỏe, thời tiết và khả năng tiêu thụ mỗi ngày.
Vì thế, bảo vệ người bán vé số dạo không nên dừng ở những đợt hỗ trợ tự nguyện. Cần chuyển từ cách tiếp cận nhân đạo sang cơ chế an sinh có tiêu chí, nguồn lực và trách nhiệm rõ ràng.
Đối với vé tồn, không nên áp dụng một quy tắc cứng nhắc cho mọi tình huống. Cần phân biệt nguyên nhân, thời điểm giao nhận, điều kiện trả vé và trách nhiệm của từng bên.
Cần một hợp đồng mẫu cho người bán dạo
Giải pháp trước mắt là rà soát quy định chuyên ngành về kinh doanh xổ số, nghiên cứu bổ sung cơ chế điều chỉnh quan hệ giữa đại lý và người bán lẻ không phải đại lý chính thức.
Một hợp đồng hoặc thỏa thuận mẫu đơn giản cần ghi rõ số lượng vé giao nhận, mức chiết khấu, thời hạn thanh toán, cách kiểm đếm vé tồn, điều kiện trả vé, trách nhiệm khi vé bị mất hoặc hư hỏng và phương thức giải quyết tranh chấp.
Không nhất thiết bắt mọi giao dịch nhỏ lẻ phải sử dụng hợp đồng giấy phức tạp. Có thể cho phép chứng từ điện tử, tin nhắn xác nhận hoặc phiếu giao nhận có mã định danh, phù hợp với điều kiện thực tế.
Quan trọng hơn, cần nghiên cứu nguyên tắc chống áp đặt bất lợi: không tùy tiện thay đổi điều kiện giao nhận, không dùng việc cắt nguồn vé để gây sức ép khi người bán thực hiện quyền đã được thỏa thuận, đồng thời có cơ chế tiếp nhận khiếu nại và bảo vệ người phản ánh.
Đối với vé tồn, không nên áp dụng một quy tắc cứng nhắc cho mọi tình huống. Cần phân biệt nguyên nhân, thời điểm giao nhận, điều kiện trả vé và trách nhiệm của từng bên. Có thể thí điểm cơ chế chia sẻ một phần rủi ro vé ế trong những điều kiện xác định, nhất là khi xảy ra mưa bão, thiên tai hoặc biến động bất thường làm giảm sức mua.
Cách làm này vừa bảo vệ người bán, vừa tránh chuyển toàn bộ gánh nặng sang đại lý nhỏ vốn cũng đang phải xoay xở.
Việc thành lập quỹ an sinh, nếu có, phải được thiết kế đúng căn cứ pháp luật, không thể chỉ dựa vào thiện chí của doanh nghiệp xổ số.
Quỹ an sinh: ai đóng, ai quản lý?
Một đề xuất đáng nghiên cứu là xây dựng cơ chế an sinh dành riêng cho người bán vé số dạo, có thể dưới hình thức quỹ hoặc chương trình hỗ trợ bảo hiểm.
Nguồn lực có thể đến từ đóng góp tự nguyện ban đầu, nguồn hợp pháp của doanh nghiệp xổ số, đại lý và các nguồn xã hội hóa. Nếu tiến tới quy định mức đóng bắt buộc hoặc cho phép trích một tỷ lệ lợi nhuận, cần có đánh giá tác động, căn cứ pháp lý và cơ chế giám sát minh bạch; không thể chỉ đưa ra một tỷ lệ rồi mặc nhiên xem đó là nguồn tiền sẵn có.




Hình ảnh người bán vé số dạo được PV Thanh Niên chụp ở TP.HCM
ẢNH: DƯƠNG TRANG
Quỹ hoặc chương trình hỗ trợ nên ưu tiên bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn và hỗ trợ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với người đủ điều kiện. Tiêu chí thụ hưởng cần công khai, có xác minh nhưng không tạo thủ tục quá phức tạp đối với người già, người khuyết tật và người lao động di cư.
Để tránh biến quỹ thành một khoản chi mang tính ban phát, cần công khai nguồn thu, mức chi, số người được hỗ trợ và kết quả hằng năm; đồng thời có cơ chế kiểm toán, giám sát độc lập phù hợp.
Về pháp lý, hướng đi khả thi là rà soát các quy định về kinh doanh xổ số, cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp xổ số và chính sách an sinh hiện hành, từ đó xác định rõ thẩm quyền, nguồn tiền và đối tượng thụ hưởng. Việc thành lập quỹ, nếu có, phải được thiết kế đúng căn cứ pháp luật, không thể chỉ dựa vào thiện chí của doanh nghiệp.
Đừng để một tờ vé số bán được là thành quả của cả hệ thống ngành xổ số, nhưng một tờ vé ế lại trở thành rủi ro của riêng người nghèo!
Kiến thiết cả sự an tâm
Cũng cần phát triển tổ chức đại diện hoặc mạng lưới hỗ trợ người bán vé số dạo để họ có nơi phản ánh, được hướng dẫn pháp lý và tiếp cận các chính sách bảo hiểm. Chính quyền cơ sở có thể phối hợp với doanh nghiệp xổ số, đại lý và các tổ chức xã hội để lập đầu mối tiếp nhận phản ánh, hỗ trợ người gặp tai nạn hoặc tranh chấp khi có phát sinh.
Có thể bắt đầu bằng thí điểm tại một số địa bàn có đông người bán vé số dạo, đánh giá sau 6 - 12 tháng về số người được bảo vệ, mức giảm tranh chấp, chi phí thực hiện và khả năng nhân rộng. Những kết quả đó sẽ là căn cứ thực tế để hoàn thiện chính sách, thay vì xây dựng một mô hình tốn kém nhưng khó vận hành.
Xổ số kiến thiết tạo nguồn thu cho xã hội. Nhưng ý nghĩa của chữ "kiến thiết" không chỉ nằm ở những công trình được xây dựng từ ngân sách, mà còn ở cách xã hội đối xử với những con người góp phần tạo ra nguồn lực ấy.
Không ai đòi hỏi doanh nghiệp xổ số hay đại lý phải gánh thay mọi rủi ro của người bán dạo. Điều cần là mỗi bên thực hiện đúng trách nhiệm, rủi ro được phân bổ minh bạch và người yếu thế không bị bỏ lại một mình khi gặp biến cố.
Bởi một tờ vé số bán được có thể mang lại nguồn thu cho cả chuỗi phân phối. Còn một xấp vé ế, trong tay người nghèo, có thể cuốn đi tiền công của cả ngày, thậm chí đẩy họ vào cảnh nợ nần.
Một ngành kinh doanh lớn không chỉ cần vận hành hiệu quả, mà còn cần một cơ chế đủ công bằng để người đứng ở cuối chuỗi không phải trả giá thay cho tất cả.
Xổ số kiến thiết tạo ra nguồn lực để kiến thiết. Vậy thì cũng cần kiến thiết một cơ chế để những người góp phần đưa nguồn lực ấy đến với xã hội không bị bỏ lại phía sau.
Đừng để một tờ vé số bán được là thành quả của cả hệ thống ngành xổ số, nhưng một tờ vé ế lại trở thành rủi ro của riêng người nghèo!










Bình luận (0)