Dòng vốn ngoại thay đổi về chất
Tập đoàn Wistron Corporation (Đài Loan) mới đây công bố quyết định đầu tư bổ sung 24,5 triệu USD xây dựng nhà máy, kho và các công trình phụ trợ tại Khu công nghiệp (KCN) Kim Bảng (Ninh Bình); cùng với việc cải tạo công trình và mua máy móc, thiết bị tại KCN hỗ trợ Đồng Văn III, đầu tư của tập đoàn này theo thông báo là tăng từ 153,77 triệu USD lên 178,27 triệu USD. Wistron vào VN từ năm 2020, là nhà cung cấp dịch vụ công nghệ toàn cầu, cung cấp các sản phẩm, giải pháp và hệ thống công nghệ thông tin - truyền thông cho các thương hiệu quốc tế. Dù không phải nhà đầu tư lớn trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, song các tài liệu được công bố qua nhiều thời kỳ cho thấy khách hàng hoặc đối tác của Wistron là những ông lớn như Acer, Dell, HP, Lenovo, Sony và Apple.
Một điều dễ nhận thấy là dòng vốn FDI vào VN 6 tháng đầu năm tập trung khá nhiều vào các lĩnh vực công nghệ cao, đặc biệt là bán dẫn, điện tử, AI, trung tâm dữ liệu và nghiên cứu - phát triển (R&D). Minh chứng rõ nét là kế hoạch rót khoảng 1,5 tỉ USD xây dựng nhà máy kiểm thử chip tại Thái Nguyên của Samsung vào cuối tháng 5. Đây được xem là bước tiến quan trọng khi lần đầu tiên Samsung đưa hoạt động kiểm thử chip vào VN, thay vì chỉ tập trung sản xuất thiết bị điện tử như trước. Cùng thời gian này, Amkor Technology (Hàn Quốc) tiếp tục mở rộng công suất nhà máy đóng gói và kiểm thử bán dẫn tại Bắc Ninh, Hana Micron (Hàn Quốc) triển khai các hạng mục tăng vốn và mở rộng dây chuyền sản xuất tại Bắc Giang nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của thị trường chip toàn cầu.
Trước đó, hồi tháng 2, Victory Giant Technology (Trung Quốc) đầu tư vào Bắc Ninh 520 triệu USD sản xuất bảng mạch in (PCB) công nghệ cao phục vụ các lĩnh vực AI, máy chủ, trung tâm dữ liệu và bán dẫn. Dự án được kỳ vọng sẽ góp phần hoàn thiện chuỗi cung ứng điện tử và bán dẫn tại miền Bắc, đồng thời tạo động lực thu hút thêm các doanh nghiệp (DN) công nghệ phụ trợ. Tại TP.HCM, Intel Products Vietnam tiếp tục mở rộng hoạt động lắp ráp và kiểm định chip tại Khu công nghệ cao TP.HCM.

Các dự án công nghệ cao đang trở thành động lực mới của dòng vốn FDI vào VN
ẢNH: NGỌC THẮNG
Đáng lưu ý, không chỉ các DN đã hiện diện tại VN tiếp tục tăng vốn, nhiều địa phương cũng đang đẩy mạnh thu hút các dự án mới trong lĩnh vực AI, trung tâm dữ liệu và R&D. TP.HCM, Đà Nẵng, Bắc Ninh và Hải Phòng đều đang xúc tiến hợp tác với các tập đoàn công nghệ quốc tế nhằm phát triển các trung tâm dữ liệu quy mô lớn, trung tâm thiết kế vi mạch và các cơ sở nghiên cứu AI. Chẳng hạn, TP.HCM đã cấp phép một số dự án trung tâm dữ liệu với tổng vốn hơn 1,2 tỉ USD và đang triển khai dự án trung tâm dữ liệu AI trị giá khoảng 2,1 tỉ USD... Những dự án này cho thấy xu hướng dịch chuyển từ thu hút FDI theo số lượng sang ưu tiên các dự án có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng (GTGT) lớn và khả năng lan tỏa về đổi mới sáng tạo, góp phần củng cố vị thế của VN trong chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu.
Chuyên gia kinh tế Trần Anh Tùng (Trưởng ngành Quản trị kinh doanh, Khoa Quản trị kinh doanh Trường ĐH Kinh tế - Tài chính TP.HCM) nhận xét: Con số 34,65 tỉ USD vốn FDI đăng ký trong 6 tháng đầu năm, tăng 61% so với cùng kỳ, cho thấy VN không chỉ giữ được sức hút mà còn đang đón một nhịp dịch chuyển vốn rất mạnh. Cụ thể, vốn đăng ký mới đạt 17,39 tỉ USD, tăng 87,2%; vốn tăng thêm đạt 11,04 tỉ USD và góp vốn, mua cổ phần đạt 6,22 tỉ USD. Vốn thực hiện đạt khoảng 13 tỉ USD, tăng 11,2% và là mức cao nhất của nửa đầu năm trong 5 năm qua. "Những con số trên cho thấy đây không chỉ là "vốn trên giấy" mà đã có sự chuyển hóa tương đối rõ sang nhà máy, thiết bị, tuyển dụng và năng lực sản xuất thực tế", ông Tùng nhận xét.

Các dự án công nghệ cao đang trở thành động lực mới của dòng vốn FDI vào VN
ẢNH: NGỌC DƯƠNG
Đáng chú ý, theo ông Tùng, loạt dự án công nghệ cao quy mô tỉ USD cho thấy dòng vốn vào VN đang có sự thay đổi về chất. Nếu mô hình FDI trước đây chủ yếu là đưa thiết bị và linh kiện vào VN để tận dụng lao động, đất đai và xuất khẩu, thì các dự án bán dẫn, kiểm định - đóng gói chip, màn hình thế hệ mới, AI và trung tâm dữ liệu đặt ra yêu cầu cao hơn về điện năng, kỹ sư, dữ liệu, an ninh mạng và hệ sinh thái nghiên cứu.
"Dòng vốn chất lượng này tạo hiệu ứng rõ nét nâng năng suất", ông Tùng nhấn mạnh. Đơn cử, một dự án bán dẫn trị giá 1,5 tỉ USD không nhất thiết tạo số lượng việc làm lớn như một nhà máy dệt may cùng quy mô vốn, nhưng GTGT và mức lương bình quân trên mỗi lao động thường cao hơn nhiều. Nếu hình thành được cụm Samsung - Intel - Amkor - các trung tâm R&D và DN phụ trợ, VN có thể dịch chuyển từ công đoạn lắp ráp sang kiểm định, đóng gói, thiết kế và phát triển ứng dụng chip. Bên cạnh đó, nguồn vốn này tạo lực kéo đối với giáo dục và DN nội địa. Một trung tâm dữ liệu AI trị giá hàng tỉ USD cần hệ thống điện ổn định, đường truyền tốc độ cao, kỹ sư phần mềm, kỹ sư làm mát, an ninh dữ liệu và dịch vụ vận hành. Dòng vốn vì thế không chỉ tạo GDP trong một dự án, mà có khả năng mở rộng thị trường cho viễn thông, năng lượng, xây dựng kỹ thuật, đào tạo và dịch vụ số.
Chính sách thu hút FDI công nghệ cao đang có hiệu ứng tốt
Phân tích rõ hơn, ông Trần Anh Tùng cho rằng những con số thu hút FDI tích cực của VN được hình thành đặc thù từ 3 nhóm yếu tố. Đó là ổn định vĩ mô, môi trường chính trị và khả năng duy trì chuỗi sản xuất trong bối cảnh thế giới phân mảnh. Nhà đầu tư hiện không còn chỉ tìm nơi rẻ nhất mà tìm nơi đủ an toàn và có thể kết nối đồng thời với Trung Quốc, ASEAN, Mỹ và châu Âu. Thời gian qua, 8 nghị quyết cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh trên diện rộng là minh chứng mạnh mẽ của Chính phủ VN trong quyết tâm xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, minh bạch, thuận tiện.
Đây là một trong những điểm hấp dẫn giúp các DN nước ngoài tin tưởng tìm tới một điểm đến đầu tư bền vững. Kế đó là mạng lưới hiệp định thương mại tự do (FTA) rộng, đặc biệt CPTPP, EVFTA và RCEP, đã giúp một nhà máy đặt tại VN tiếp cận nhiều thị trường lớn với ưu đãi thuế quan. Ngoài ra, hoạt động ngoại giao kinh tế và mời gọi đầu tư ở cấp Chính phủ ngày càng chuyển sang tiếp cận trực tiếp các tập đoàn chiến lược, đồng thời các địa phương chủ động chuẩn bị đất công nghiệp, hạ tầng và cơ chế xử lý thủ tục.

Dòng vốn FDI đang chuyển mạnh vào các ngành công nghệ cao, góp phần nâng vị thế của VN trong chuỗi cung ứng toàn cầu
ẢNH: NGỌC DƯƠNG
TS Nguyễn Quốc Việt, Trưởng nhóm nghiên cứu vĩ mô, Trường ĐH Kinh tế, ĐH Quốc gia Hà Nội, cũng đồng tình xu hướng dòng vốn FDI dịch chuyển mạnh vào các lĩnh vực công nghệ cao, bán dẫn, AI… trong thời gian qua không phải là diễn biến ngẫu nhiên mà phản ánh hiệu quả của quá trình điều chỉnh chiến lược thu hút đầu tư của VN trong những năm gần đây. Thay vì ưu tiên thu hút vốn bằng mọi giá, VN đang chuyển sang lựa chọn các dự án có hàm lượng công nghệ cao, GTGT lớn, khả năng chuyển giao công nghệ và tạo liên kết với DN trong nước.
Ông nói: "Cùng với việc hoàn thiện môi trường đầu tư, thời gian qua, VN đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi, xây dựng chiến lược phát triển ngành bán dẫn, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đầu tư hạ tầng khu công nghệ cao và thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Những chính sách này đang phát huy hiệu quả, giúp VN từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu; từ dựa nhiều vào lao động giá rẻ và gia công sang công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng suất. Điều này cũng được phản ánh qua xu hướng dòng vốn FDI ngày càng tập trung vào các lĩnh vực điện tử, bán dẫn, AI, trung tâm dữ liệu và năng lượng sạch thay vì các ngành thâm dụng lao động như trước đây".
Tuy nhiên, TS Việt cũng lưu ý, bên cạnh những tín hiệu tích cực, vẫn cần chú ý khoảng cách giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện. Mặc dù mức giải ngân vừa qua là cao nhất cùng kỳ trong 5 năm trở lại đây, sự chênh lệch giữa vốn FDI đăng ký và thực hiện cho thấy nhà đầu tư vẫn đặt niềm tin vào triển vọng của VN, song mức độ hiện thực hóa niềm tin đó sẽ phụ thuộc vào khả năng hấp thụ của nền kinh tế, đặc biệt là năng lực phát triển hạ tầng, để đáp ứng các dự án quy mô lớn.
Nghị quyết 10 tạo nền tảng "hái quả ngọt" FDI trong những năm tới
Sau hơn 7 năm thực hiện Nghị quyết 50, dòng vốn FDI vào VN đã có sự chuyển dịch rõ nét cả về cơ cấu lẫn chất lượng. Trong bối cảnh đó, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 10 được xem là bước nâng cấp quan trọng trong chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài, hướng tới lựa chọn các dự án công nghệ cao, GTGT lớn và có khả năng lan tỏa tới khu vực DN trong nước.
TS Nguyễn Quốc Việt đánh giá, cùng với sự giữ vững được phong độ thu hút vốn ngoại thời gian qua, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị kỳ vọng là dấu mốc quan trọng trong việc nâng cấp chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài của VN. Nếu trước đây trọng tâm là thu hút vốn đầu tư, thì Nghị quyết 10 chuyển mạnh sang tư duy xây dựng nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia, lấy chất lượng, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả lan tỏa làm tiêu chí cốt lõi.

VN tiếp tục là điểm đến hấp dẫn của các tập đoàn công nghệ toàn cầu
ẢNH: NHẬT THỊNH
Điểm mới của nghị quyết là ưu tiên thu hút các ngành công nghệ tương lai như bán dẫn, AI, internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây, blockchain, công nghệ sinh học, vật liệu mới và năng lượng xanh; đồng thời chuyển từ cơ chế ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ dựa trên kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư. Nghị quyết cũng đặt ra các mục tiêu cụ thể đến năm 2030 như 75% vốn FDI đến từ các nền kinh tế phát triển, tăng số tập đoàn Fortune 500 đầu tư vào VN và thu hút ít nhất 3 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trung tâm R&D tại VN.
TS Nguyễn Quốc Việt nhấn mạnh: "Những định hướng trên sẽ giúp VN đón làn sóng FDI thế hệ mới trong bối cảnh các tập đoàn toàn cầu đang tái cơ cấu chuỗi cung ứng. Mặc dù hiệu quả của các chính sách cần thêm thời gian để hiện thực hóa, song với nền tảng chính sách đã được nâng cấp, cùng xu hướng dịch chuyển đầu tư toàn cầu, VN có cơ sở để kỳ vọng sẽ "hái quả ngọt" trong những năm tới thông qua việc thu hút nhiều hơn các dự án công nghệ cao, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và từng bước vươn lên những nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu".

Chuyên gia Trần Anh Tùng khẳng định: Nghị quyết 10 ra đời rất đúng thời điểm và là minh chứng cho sự trưởng thành vượt bậc trong tư duy phát triển kinh tế của VN. Sự chuyển dịch này được thể hiện rõ nét qua việc thay đổi bộ câu hỏi cốt lõi khi tiếp cận dòng vốn đầu tư. VN không còn chỉ dừng lại ở câu hỏi đơn thuần mang tính số lượng là thu hút được bao nhiêu vốn, mà hướng tới các mục tiêu chất lượng là tập trung giải quyết 3 câu hỏi khó hơn: Dòng vốn đầu tư đó sẽ tạo ra công nghệ gì? Khả năng tham gia của các DN VN đạt đến mức độ nào? Nền kinh tế trong nước thực tế giữ lại được bao nhiêu giá trị?
Cùng với đó, Nghị quyết 10 thay đổi cách tiếp cận từ việc chỉ thu hút các dự án FDI đơn lẻ sang việc kiến tạo một hệ sinh thái bền vững. Hệ sinh thái này được xây dựng dựa trên sự liên kết chặt chẽ giữa nhiều thành tố: Các nhà đầu tư chiến lược; khối học thuật bao gồm các trường ĐH và viện nghiên cứu; nền tảng hạ tầng đồng bộ về dữ liệu và năng lượng và hệ thống các nhà cung cấp nội địa.
"Nếu được triển khai hiệu quả, Nghị quyết 10 sẽ mang lại kết quả vượt xa giá trị của vài chục tỉ USD vốn FDI tăng thêm mỗi năm. VN sẽ có cơ hội hình thành được các cụm công nghiệp công nghệ có năng suất cao; từ đó tạo ra nhiều việc làm có mức thu nhập tốt, đồng thời gia tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước", ông Trần Anh Tùng kỳ vọng.
Sự chuyển dịch dòng vốn FDI còn giúp nền kinh tế giảm dần sự phụ thuộc vào tỷ trọng gia công lắp ráp vốn có GTGT thấp; đặc biệt tạo cơ hội bứt phá cho các DN trong nước. Thay vì chỉ dừng lại ở việc cung cấp các dịch vụ giá trị thấp như bao bì, vận tải hoặc cung ứng lao động, các DN Việt có thể vươn lên trở thành nhà cung ứng linh kiện, phần mềm và dịch vụ kỹ thuật chuyên sâu.
Chuyên gia kinh tế Trần Anh Tùng (Trường ĐH Kinh tế - Tài chính TP.HCM)
Để phát huy việc thu hút vốn FDI chất lượng, bền vững, VN cần tiếp tục nâng cao năng lực hấp thụ của nền kinh tế, đặc biệt là hạ tầng, nguồn nhân lực và công nghiệp hỗ trợ. Từ đó tạo điều kiện để các dự án FDI công nghệ cao có thể lan tỏa mạnh hơn sang khu vực DN trong nước, góp phần nâng tỷ lệ nội địa hóa và GTGT.
TS Nguyễn Quốc Việt (Trường ĐH Kinh tế, ĐH Quốc gia Hà Nội)
Bình luận (0)