Phía bắc là Thiên Mã Sơn vươn mình ra cửa biển, phía nam là những làng quê đã bao đời sống nhờ con nước. Ở đây, chuyện về một ngọn núi thiêng, một làng nghề từng nhộn nhịp hay món don dân dã cứ nối nhau kể mãi.
Cửa Đại vì thế không chỉ đẹp bởi mây nước. Đẹp hơn cả là những phận người đã gửi cuộc đời mình vào dòng sông, bãi biển và những sản vật quê nhà.
Ngọn núi thiêng bên Cửa Đại
Từ trung tâm Quảng Ngãi xuôi theo sông Trà Khúc về phía đông chừng 5 km, cửa Đại mở ra mênh mông. Bình minh, mặt trời từ phía biển nhô lên, nhuộm hồng mặt nước. Chiều xuống, khói sóng bảng lảng, xa xa những doi cát và xóm làng chìm trong màn sương mỏng.
Cửa Đại nằm giữa xã Tịnh Khê và An Phú. Phía bắc là Thiên Mã Sơn, 1 trong 3 ngọn núi được xem là núi thiêng của Quảng Ngãi, cùng với Thiên Ấn và Thiên Bút.

Quần thể chùa Minh Đức, có tượng Phật Bà Quan Âm cao nhất nước và Đông Nam Á ở đỉnh Thiên Mã Sơn, bên trái cửa Đại (Quảng Ngãi)
ẢNH: HẢI PHONG
Nếu Thiên Ấn có dấu tích Phật giáo từ lâu đời, Thiên Bút gắn với những câu chuyện văn hóa, thì Thiên Mã Sơn bao đời gần như chỉ hiện diện trong ký ức dân gian. Người Quảng Ngãi nhắc về ngọn núi này qua câu ca dao: "Khi nào Thiên Mã sang sông/ Thì làng Mỹ Lại mới không công hầu".
Câu ca ấy gắn với làng Mỹ Lại nằm phía sau núi, nơi có dòng họ Trương nổi tiếng. Bao đời, dòng họ này có nhiều người đỗ đạt, làm quan, trong đó có Trương Đăng Quế - đại thần triều Nguyễn. Còn Thiên Mã Sơn đứng đó, nhìn xuống sông Trà và cửa biển, như một người già lặng lẽ chứng kiến bao đổi thay của làng quê.

Lung linh cửa Đại
ẢNH: TẤN PHÁT
Năm 2018, chùa Minh Đức được xây dựng trên đỉnh Thiên Mã Sơn, mở ra diện mạo mới cho ngọn núi từng chủ yếu tồn tại trong những câu chuyện dân gian. Khu văn hóa Thiên Mã Sơn có quy mô khoảng 100 ha. Riêng khuôn viên chùa Minh Đức rộng khoảng 12.000 m². Đại Hùng bảo điện có 3 tượng Phật cao 21 m cùng 64 bức phù điêu khắc họa cuộc đời Đức Phật.
Nổi bật giữa núi non là tượng Phật Bà Quan Âm cao 125 m. Công trình trở thành điểm nhấn đặc biệt nơi cửa Đại, với tượng Quan Âm được giới thiệu là cao nhất Đông Nam Á.
Chùa chưa hoàn thiện toàn bộ nhưng khách thập phương đã tìm về ngày một đông, nhất là dịp Tết và các ngày lễ. Từ dưới cửa biển nhìn lên, tượng Quan Âm đứng giữa trời xanh, hướng mắt ra biển. Những hôm mây thấp, sương phủ, thân tượng lúc ẩn lúc hiện giữa mây núi, tạo nên cảnh sắc vừa gần gũi vừa huyền ảo.
Hai làng Cổ Lũy bên cửa Đại
Cửa Đại còn có một điều đặc biệt: 2 làng cùng mang tên Cổ Lũy.
Phía nam là Cổ Lũy cô thôn, 1 trong 12 thắng cảnh của Quảng Ngãi. Nơi đây còn lưu giữ nghề cào don trên sông Trà, thứ sản vật nhỏ bé nhưng đã trở thành món ăn khiến người Quảng Ngãi xa quê nhớ mãi.
Phía bắc, Cổ Lũy Bắc thuộc xã Tịnh Khê từng nổi tiếng với nghề làm dây dừa, đan võng dừa. Làng nằm trên vùng đất giữa sông và biển, xưa kia dừa mọc bạt ngàn. Người dân lớn lên bên gốc dừa, rồi lấy chính cây dừa làm kế sinh nhai.
Mấy mươi năm trước, người dân nơi này mở mắt ra đã thấy võng dừa, dây dừa trải khắp đường làng, ngõ xóm. Đàn ông thường dậy từ rất sớm. Khi trời còn chưa sáng, họ cầm búa đập xơ dừa để vợ con ở nhà làm tiếp, rồi xuống ghe chèo dọc sông Kinh Giang đánh bắt cá, tôm.

Một góc cửa biển
ẢNH: HẢI PHONG
Cụ Phạm Mai (90 tuổi), một người dân địa phương, kể ngày trước xóm Khê Hội, tên gọi hiện nay của Cổ Lũy Bắc, có tên là "Cồn Sóng xứ". Đó vốn là một cồn đất quanh năm chịu sóng vỗ. Cát bồi từng chút, năm này qua năm khác, cồn đất lớn dần thành nơi cư trú của hàng trăm gia đình. Nghề làm dây dừa, võng dừa cũng hình thành từ đó.
Để có những sợi dây dừa, người dân phải bỏ ra rất nhiều công sức. Dừa trong làng không đủ, họ chèo ghe sang các xã Nghĩa Hòa, Nghĩa Dõng, Nghĩa Hà, Nghĩa Phú và nhiều nơi khác ở huyện Tư Nghĩa (cũ) để mua. Ghe lúc đi nhẹ tênh, khi trở về có khi chở tới 3 - 5 tấn dừa tươi.
Dừa đem về, phần ruột dùng làm thức ăn, phần vỏ được đem chôn xuống bùn. Mỗi gia đình có khi đào 30 - 50 hố để ủ vỏ dừa. Nhanh thì nửa năm, lâu có khi cả năm, lớp vỏ bên ngoài mục đi, người dân mới vớt lên, đập lấy xơ.
Công việc nối tiếp nhau từ sáng đến tối. Đêm khuya đập dừa lấy tơ, buổi trưa quay thành từng sợi, chiều bện dây, đan võng. Tối xuống, những cuộn dây, chiếc võng được xếp lại chờ người đến mua.

Nghề lưới rùng của người dân vùng cửa Đại
ẢNH: HẢI PHONG
"Ở đây, đứa nhỏ lên 10 tuổi đã biết đan võng, bện dây dừa rồi", cụ Mai kể. Ngày ấy, chuyện học chữ còn xa vời với nhiều đứa trẻ. Chúng lớn lên bên cây dừa, ngủ trên võng dừa, nhìn cha mẹ làm nghề rồi tự nhiên thành thạo.
Trẻ con, phụ nữ làm những sợi dây nhỏ, đan võng. Đàn ông bện dây lớn, có sợi to như cổ tay, bắp tay, dài hàng trăm mét để làm dây neo cho tàu thuyền.
Một thời, nghề võng và dây dừa nuôi sống cả xóm. Tiếng rao "Võng đây! Ai võng không?" từng theo những chiếc xe đạp, đôi quang gánh len vào từng làng quê Quảng Ngãi.
Vậy mà khoảng 20 năm trước, nghề dần biến mất. Những tiếng rao không còn, những chiếc võng dừa cũng thưa vắng. Chỉ trong ký ức những người già, một làng nghề từng rộn ràng vẫn còn nguyên hình bóng.
Có những nghề mất đi không phải vì người ta quên, mà bởi cuộc sống đã đổi thay. Còn ký ức về nghề vẫn ở lại, như những sợi dây dừa bền bỉ níu người làng với quê hương.
Gáo Dừa giữ vị don sông Trà
Nếu Cổ Lũy Bắc gắn với cây dừa, võng dừa thì Cổ Lũy phía nam lại gắn với con don. Dòng Trà Khúc đổ ra cửa Đại, tạo nên vùng nước mặn pha ngọt, môi trường sinh sống của loài don nhỏ bé - đặc sản khiến người Quảng Ngãi xa quê nhớ mãi..

Nghề cào don ở sông Trà Khúc
ẢNH: P.A
Ở thôn Cổ Lũy, bờ nam sông Trà, quán don Gáo Dừa của bà Phạm Thị Kim Liên (69 tuổi) đã trở thành địa chỉ quen thuộc của thực khách.
Bà Liên đến với nghề từ khi mới đôi mươi, khi về nhà chồng và được mẹ chồng là bà Phạm Thị Cẩm truyền lại cách làm don. Ngày ấy, cha chồng ra sông cào don, ở nhà mẹ chồng chuẩn bị củi, nước. Gần trưa, don mang về được chà vỏ, rửa sạch, ngâm nhả cát rồi luộc. Nước don trong, ngọt thanh được giữ lại; thịt don trộn hành tây, ớt, ăn cùng bánh tráng.
Mẹ chồng bà Liên từng gánh don lên thị xã Quảng Ngãi bán. Đôi quang gánh chỉ có 2 cái ui bằng đất nung, thêm tô sành, đôi đũa và bánh tráng. Nghề mưu sinh nhọc nhằn ấy đi vào ca dao: "Nghèo thì nghèo/nợ thì nợ/có phước gặp cô vợ bán don/rủi mai có chết cũng còn cặp ui".
Mỗi ngày, những người phụ nữ gánh hàng chục ký don đi hàng chục cây số. Ngày bán được thì có tiền mua gạo; ngày mưa gió, hàng ế, cả nhà ăn don thay cơm để dành gạo cho hôm sau.
Với bà Liên, don vì thế không chỉ là món ăn mà còn là ký ức về mẹ chồng và những năm tháng gia đình bám lấy con sông để mưu sinh. Bà Cẩm đã qua đời, nhưng đôi quang gánh, 2 cái ui và chiếc gáo dừa từng dùng để múc canh don vẫn được bà Liên giữ lại. Bà đặt tên quán là Gáo Dừa như một cách lưu giữ hình bóng người mẹ chồng tảo tần và nghề xưa của làng.

Bình minh bên cửa Đại
ẢNH: HẢI PHONG
Giờ đây, quán Gáo Dừa đông khách hơn trước. Những ngày Tết, bà Liên bán 70 - 80 kg don. Khách trong tỉnh, khách phương xa, người đi lễ hay tham quan Cổ Lũy đều tìm đến thưởng thức món don sông Trà.
Don của bà còn theo những chuyến xe ra Hà Nội, lên Tây nguyên, vào TP.HCM. Có người Quảng Ngãi ở Mỹ nhớ món quê, nhờ người thân mua don gửi sang. Mỗi lần gửi vào TP.HCM, bà Liên có khi làm 2 - 3 tạ don cùng nước don, chia thành từng bịch 1 kg để dễ vận chuyển.
Con don bé nhỏ cứ thế đi xa khỏi cửa Đại, mang theo vị ngọt của dòng Trà Khúc và nỗi nhớ quê của những người xa xứ.
Cửa Đại hôm nay đã khác xưa. Thiên Mã Sơn có chùa Minh Đức và pho tượng Quan Âm vươn lên giữa trời; những xóm nghề bên sông cũng đổi thay, tiếng rao võng dừa chỉ còn trong ký ức. Nhưng dưới chân núi, dòng Trà Khúc vẫn lặng lẽ xuôi về biển, còn những người như bà Liên vẫn bền bỉ giữ lại một món ăn quê nhà.
Từ ngọn núi, dòng sông đến những làng nghề bên cửa biển, Cửa Đại lưu giữ một lớp ký ức mộc mạc về đất và người Quảng Ngãi - nơi những câu chuyện xưa vẫn tiếp tục sống trong đời sống hôm nay. (còn tiếp)
Bình luận (0)