Để chủ trương này đạt hiệu quả thực chất, cần giải quyết đồng thời bài toán phân luồng sau THCS, nâng cao sức hấp dẫn của giáo dục nghề nghiệp (GDNN) và bảo đảm mỗi học sinh có con đường phát triển phù hợp.
Thay đổi tư duy quản lý
Dự thảo Quy chế tiếp nhận học sinh (HS) đầu cấp giáo dục phổ thông do Bộ GD-ĐT công bố lấy ý kiến đề xuất chuyển từ tư duy tuyển sinh, tuyển chọn sang chủ động chuẩn bị điều kiện tiếp nhận HS trong độ tuổi.
Đối với lớp 1 và lớp 6, dự thảo định hướng không kiểm tra, đánh giá, phân loại hoặc tuyển chọn HS, ngoại trừ một số cơ sở được giao nhiệm vụ phát hiện, bồi dưỡng HS năng khiếu THCS. Với lớp 10, dự thảo giữ các phương thức hiện hành nhưng định hướng giảm thi tuyển khi chưa thực sự cần thiết; nếu tổ chức thi thì sẽ gồm 2 môn toán và ngữ văn.
Đây không chỉ là thay đổi phương thức tuyển sinh mà còn chuyển trách nhiệm bảo đảm cơ hội học tập về phía địa phương và hệ thống giáo dục. Thay vì đặt yêu cầu tuyển chọn lên người học, cơ quan quản lý phải chủ động dự báo quy mô, chuẩn bị trường lớp, giáo viên và các điều kiện dạy học cần thiết.

Có nhiều con đường cho học sinh lớp 9 sau khi kết thúc THCS thay vì chỉ chọn vào lớp 10 THPT
ẢNH: ĐỘC LẬP
Cách tiếp cận này phù hợp yêu cầu bảo đảm công bằng, thực hiện giáo dục bắt buộc đến hết THCS và phổ cập giáo dục trung học. Cơ hội học tập không nên phụ thuộc quá nhiều vào nơi cư trú, điều kiện kinh tế hay khả năng ôn thi của HS. Giảm những rào cản không cần thiết sẽ góp phần giảm áp lực cho HS, đồng thời nâng cao trách nhiệm của địa phương trong bảo đảm chỗ học.
Tuy nhiên, tiếp nhận đủ HS mới chỉ là bước đầu. Khi cơ hội học phổ thông sau lớp 9 được mở rộng, hệ thống giáo dục phải đồng thời phát triển những con đường học tập khác có chất lượng, đủ sức hấp dẫn và phù hợp với năng lực, nguyện vọng của người học.
Mở rộng cơ hội học tập bằng nhiều con đường
Tiến sĩ Thái Văn Tài, Vụ trưởng Vụ giáo dục phổ thông Bộ GD-ĐT, cho biết tỷ lệ HS sau lớp 9 vào lớp 10 trong năm học vừa qua tăng từ 75% lên trên 80%; một số địa phương đạt 95%, thậm chí 97%. Nghị quyết số 71-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành THPT và tương đương.
Xu hướng mở rộng cơ hội học tập sau THCS phù hợp yêu cầu phát triển của xã hội, khi trình độ học vấn ngày càng ảnh hưởng cơ hội việc làm, khả năng thích ứng công nghệ và chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, cần phân biệt giữa nâng cao trình độ học vấn của người dân với việc tất cả HS phải đi cùng một lộ trình. Sau THCS, các em có thể học THPT, chương trình giáo dục thường xuyên (GDTX) hoặc GDNN. Mỗi con đường có mục tiêu, phương thức đào tạo riêng nhưng đều có thể giúp người học phát triển và đóng góp cho xã hội.
Nếu mở rộng cơ hội học tập đồng nghĩa với đưa càng nhiều HS vào THPT càng tốt, giáo dục dễ mặc nhiên coi đây là con đường chính, còn học nghề là lựa chọn dành cho những em không đủ khả năng học tiếp phổ thông. Khi đó, phân luồng có thể được thực hiện về hình thức nhưng không đạt thực chất. HS chọn trường theo tâm lý số đông, kỳ vọng gia đình hoặc vị thế xã hội của từng loại hình đào tạo, thay vì căn cứ vào năng lực, sở trường và định hướng tương lai.
Vì vậy, giải pháp không phải là hạn chế cơ hội vào THPT để duy trì tỷ lệ phân luồng, mà là phát triển nhiều con đường học tập có chất lượng, giúp HS thực sự có quyền lựa chọn.

Việc đưa trung học nghề vào hệ thống giáo dục quốc dân là “bước ngoặt đáng chú ý” của công tác phân luồng học sinh sau THCS
ẢNH: MỸ QUYÊN
Nâng cao chất lượng GDNN
Muốn phân luồng hiệu quả, điều quan trọng là phải nâng cao chất lượng và sức hấp dẫn của những lựa chọn khác.
Hiện nay, GDNN vẫn chịu định kiến xã hội. Nhiều phụ huynh xem học THPT rồi vào đại học là lộ trình mặc định, còn học nghề thường bị coi là lựa chọn dành cho HS có kết quả học tập thấp. Định kiến này khó thay đổi nếu chất lượng đào tạo, cơ hội việc làm và triển vọng phát triển của người học nghề chưa được chứng minh bằng kết quả thực tế.
Vì vậy, cần phát triển các trường trung học nghề với chương trình kết hợp kiến thức văn hóa, kỹ năng nghề, thực hành và trải nghiệm tại doanh nghiệp. Người học phải có cơ hội tiếp cận việc làm, nâng cao trình độ và tiếp tục học ở bậc cao hơn. Đặc biệt, cần xây dựng lộ trình liên thông rõ ràng giữa giáo dục phổ thông, GDNN và giáo dục đại học. Học nghề sau lớp 9 không đồng nghĩa với khép lại cơ hội phát triển học vấn.
Trong bối cảnh đó, chuyển đổi các trung tâm GDNN-GDTX thành trường trung học nghề theo luật GDNN năm 2025 là hướng đi đáng chú ý. Một số địa phương đã xây dựng phương án sắp xếp, tổ chức lại các trung tâm và dự kiến chuyển đổi một số cơ sở. Tuy nhiên, không thể chỉ đổi tên hay sáp nhập đơn vị, mà phải hình thành mô hình đào tạo mới với chương trình, đội ngũ, cơ sở vật chất và thiết bị thực hành phù hợp. Trường trung học nghề cần trở thành lựa chọn có giá trị và triển vọng, chứ không phải nơi tiếp nhận những HS không vào được THPT.
Bên cạnh đó, phân luồng hiệu quả phải bắt đầu từ sớm, chứ không thể chỉ thực hiện trong vài tháng cuối cấp THCS. Các trường cần tổ chức hoạt động hướng nghiệp phù hợp từng lứa tuổi, giúp HS trải nghiệm những lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau, nhận diện sở trường và tìm hiểu yêu cầu của thị trường lao động. Hoạt động này không nhằm gắn nhãn HS hay quyết định thay các em, mà giúp các em có thêm thông tin để tự lựa chọn.
Gia đình cũng cần thay đổi cách nhìn về thành công trong giáo dục. Không phải HS nào cũng cần trở thành sinh viên đại học, và không phải con đường nghề nghiệp nào cũng bắt đầu bằng một tấm bằng đại học. Điều quan trọng là người học có năng lực thực chất, khả năng tự học, ý thức trách nhiệm và cơ hội phát triển phù hợp.
Cùng với đó, cơ quan quản lý giáo dục công khai thông tin về các trường THPT, trung tâm GDTX, trung học nghề và cơ sở GDNN trên địa bàn. Thông tin cần bao gồm chương trình đào tạo, điều kiện học tập, cơ hội liên thông và triển vọng nghề nghiệp, thay vì chỉ cung cấp chỉ tiêu tiếp nhận hay phương thức tuyển sinh.
Khi HS và phụ huynh có thông tin đầy đủ, lựa chọn sau THCS mới có thể trở thành quyết định có cân nhắc, thay vì là phản ứng trước kết quả thi tuyển và áp lực thi cử.

Với tuyển sinh lớp 10 công lập, dự thảo của Bộ GD-ĐT giữ các phương thức hiện hành nhưng định hướng giảm thi tuyển khi chưa thực sự cần thiết; nếu tổ chức thi thì sẽ gồm 2 môn toán và ngữ văn
ảnh: Độc Lập
Đánh giá bằng sự phát triển của người học
Không nên đánh giá hiệu quả phân luồng chỉ bằng tỷ lệ HS vào THPT hay chuyển sang học nghề. Tỷ lệ vào THPT tăng chưa chắc mọi em đã có lựa chọn phù hợp; tuyển sinh nghề đạt chỉ tiêu cũng không đồng nghĩa với thành công nếu người học thiếu hứng thú, không hoàn thành chương trình hoặc khó tìm việc làm. Cần đánh giá bằng kết quả thực chất: HS có được học trong môi trường phù hợp, phát triển năng lực và kỹ năng cần thiết, hoàn thành chương trình, có khả năng học tiếp hoặc tham gia thị trường lao động hay không.
Muốn vậy, mở rộng cơ hội học tập phải đi đôi với đầu tư trường lớp, phát triển đội ngũ, nâng cao chất lượng và phân bổ HS hợp lý giữa các cơ sở. Trách nhiệm của ngành giáo dục không chỉ là tiếp nhận đủ người học, mà còn phải bảo đảm điều kiện học tập có chất lượng, công bằng và cơ hội phát triển cho từng em.
Chuyển từ tuyển sinh sang tiếp nhận HS đầu cấp vì thế không đơn thuần là thay đổi phương thức quản lý, mà là chuyển từ tư duy lựa chọn người học sang trách nhiệm của hệ thống giáo dục đối với người học.
Mở rộng cơ hội học tập và phân luồng sau THCS không đối lập nhau. Thành công của phân luồng không phải đưa nhiều HS vào một con đường, mà là giúp mỗi em có cơ hội lựa chọn hướng đi phù hợp, phát triển năng lực và đóng góp cho xã hội.










Bình luận (0)