Xây dựng lại lực lượng chủ chốt cho các môn Olympic
Trong tổng số 25 huy chương (3 HCV, 3 HCB và 19 HCĐ) của 12 môn thể thao mà chúng ta giành được ở ASIAD 20, chỉ có 11 huy chương là thuộc các môn nằm trong chương trình thi đấu Olympic ở Mỹ 2 năm tới, đặc biệt là không có HCV. Tự con số này cũng nói lên chúng ta khá mạnh ở các môn mang tính khu vực và châu lục như cầu mây, karate, nhưng bước ra thế giới thì vẫn còn là một khoảng cách mênh mông.
Chưa nói so với Thái Lan hay những quốc gia Đông Nam Á khác, chỉ tự soi mình thôi cũng thấy rất nhiều môn cơ bản, thể thao Việt Nam không lọt vào nhóm cạnh tranh. Rowing giành nhiều huy chương nhất trong các môn Olympic hay quyền anh, điền kinh cũng chỉ tiệm cận phần nào thành tích khu vực, chứ chưa nói đến tranh chấp huy chương.

Trịnh Thu Vinh chỉ về thứ 4 nội dung 25 m súng ngắn ở ASIAD 20
ẢNH: BÙI LƯỢNG
Thực tế qua các kỳ Olympic mà Việt Nam từng tham gia và có huy chương thì đầu tiên là taekwondo với Trần Hiếu Ngân ở Sydney (Úc) năm 2000 hay cử tạ với Hoàng Anh Tuấn ở Bắc Kinh 2008, đỉnh điểm chính là Hoàng Xuân Vinh ở bắn súng năm 2016 (Brazil). Đây chính là 3 môn có thể nhắm đến huy chương Olympic. Nhưng ASIAD 20 lại cho thấy sự khắc nghiệt. Cử tạ chỉ có 1 HCĐ, taekwondo 1 HCB môn mới đá ảo, còn bắn súng tệ hơn chẳng có nổi một thành tích nào.
Vậy thì làm thế nào đây? Câu trả lời chắc chắn phải đầu tư quyết liệt và nâng cấp trình độ cho VĐV đang có của các môn trọng điểm này. Bên cạnh đó là xây dựng lại lực lượng chủ chốt cho các môn có thể tranh chấp khác. Bởi khoảng cách đang có chắc chắn không đơn thuần chỉ nằm ở tố chất VĐV, mà đó chính là do hệ thống đào tạo đỉnh cao của chúng ta chưa thật khoa học và hiệu quả.
Đầu tư thế nào để bật lên?
ASIAD 20 chỉ đặt mục tiêu 4 HCV trên cơ sở đã tiên lượng rất nhiều, nhưng phải vô cùng vất vả giờ chót Việt Nam mới giành được 3 chiếc. Tình hình này cho thấy nếu không gấp rút cải thiện tầm nhìn và cách đầu tư ở các môn trọng điểm thì rất khó lòng chúng ta đặt mục tiêu cao cho ngày hội trên đất Mỹ.

Điền kinh Việt Nam nỗ lực tại ASIAD 20 nhưng chưa thể thu hẹp khoảng cách
ẢNH: ĐỘC LẬP
Nên biết Olympic là sân chơi phải cạnh tranh với những nền thể thao có hệ thống tuyển chọn và đào tạo rất sâu, được hỗ trợ bởi khoa học thể thao, dinh dưỡng, y học, dữ liệu thi đấu, trang thiết bị và một lịch thi đấu quốc tế dày đặc. Khoảng cách không chỉ nằm ở vài phần trăm giây hay vài centimet, mà nằm trong cả quá trình chuẩn bị kéo dài nhiều năm.
Trong nhiều năm qua, chúng ta vẫn bị cái khung SEA Games bủa vây, nên cách đầu tư vẫn còn dàn trải. Dù tại ASIAD 20 đã cố gắng tinh lọc, nhưng có quá nhiều môn đến sân chơi khu vực, có VĐV chỉ đấu một trận là ra về. Do vậy, nếu muốn rút ngắn khoảng cách với các quốc gia Đông Nam Á, xa hơn là với châu Á và đừng để chật vật khi hướng đến Olympic, Việt Nam cần đầu tư có trọng điểm để tạo năng lực cạnh tranh tại Los Angeles 2028.

Lực sĩ Quàng Thị Tâm dù rất cố gắng nhưng chưa thể giúp cử tạ bật lên
ẢNH: Đ.K
Đầu tư trọng điểm của thể thao Việt Nam không nên chỉ là tăng ngân sách cho một vài đội tuyển. Điều quan trọng nhất là phải xây dựng được một hệ sinh thái hoàn chỉnh quanh VĐV. Muốn có thành tích Olympic lâu dài không thể đợi đến khi VĐV trưởng thành mới tìm kiếm tài năng. Cần có hệ thống phát hiện năng khiếu từ trường học, địa phương, CLB và các trung tâm thể thao; sau đó theo dõi sự phát triển của từng VĐV bằng dữ liệu khoa học.
Cũng cần đầu tư mạnh vào HLV. Một VĐV giỏi không thể phát triển mãi bằng phương pháp huấn luyện cũ. Việt Nam cần đưa các HLV giỏi ra nước ngoài học hỏi, thuê chuyên gia quốc tế ở những khâu cần thiết và quan trọng hơn là xây dựng đội ngũ chuyên gia Việt Nam đủ năng lực tiếp nhận, chuyển giao kiến thức. Bài học của Nguyễn Huy Hoàng của bơi lội và ở nhiều VĐV bộ môn có chuyên gia yếu và HLV chưa đủ tầm đã hiện rõ tại ASIAD 20.

Nguyễn Thị Tâm (trái) chơi rất hay trong hạng cân của mình, nhưng để bước ra Olympic là câu chuyện khác
ẢNH: ĐỘC LẬP
Bên cạnh đó là khoa học thể thao. Dinh dưỡng, phục hồi chấn thương, tâm lý thể thao, phân tích dữ liệu, sinh cơ học, kiểm soát tải lượng tập luyện và phòng chống doping phải trở thành một phần bình thường của quá trình đào tạo. Điều quan trọng hơn nữa là phải được thi đấu quốc tế thường xuyên. Mặt khác để có sự bền vững khi bước đến Olympic phải tạo ra độ sâu lực lượng. Nếu một môn chỉ có một VĐV đủ sức cạnh tranh quốc tế, nguy cơ mất thành tích do chấn thương, xuống phong độ hoặc giải nghệ mà không người thay thế là rất lớn.
Thể thao Việt Nam không thiếu những khoảnh khắc đáng tự hào. Những tấm HCV dù ở SEA Games, ASIAD hay các giải vô địch thế giới, đều là thành quả đáng trân trọng. Nhưng nếu muốn bước lên một nấc thang mới, chúng ta cần nhìn thẳng vào khoảng cách ở đấu trường Olympic để đầu tư các môn trọng điểm một cách quyết liệt hơn.











Bình luận (0)