Báo cáo mới nhất của chương trình đánh giá người học quốc tế (PISA) năm 2025 được Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) công bố vài ngày trước chỉ rõ có tới 95,9% học sinh (HS) VN dùng AI để học với những tần suất khác nhau, tỷ lệ cao nhất toàn cầu. Tuy vậy cũng theo kết quả PISA, chỉ 41% em đạt từ mức 2 (ngưỡng cơ bản) trở lên ở kỹ năng đọc hiểu, trong khi môn toán và khoa học cao hơn - ở mức 58% và 71%.
AI hỗ trợ rất tốt nhưng có những mặt trái đáng lo ngại
Theo tiến sĩ Đặng Quang Vinh, giảng viên cấp cao, khoa Khoa học máy tính và công nghệ, Trường ĐH Anh Quốc Việt Nam (BUV), việc HS VN đứng đầu về mức độ sử dụng AI cho học tập "không phải là điều quá bất ngờ", bởi người Việt từ lâu có khả năng thích nghi rất nhanh với công nghệ mới và với những thay đổi của môi trường.
Đây là một lợi thế rất lớn, theo ông Vinh, bởi một xã hội có mức độ chấp nhận công nghệ cao là môi trường thuận lợi để thử nghiệm những mô hình giáo dục, sản phẩm AI và phương thức học tập mới. Nếu được dùng đúng cách, AI có thể cá nhân hóa việc học, cung cấp phản hồi tức thời, hỗ trợ người học yếu hơn, và mở rộng khả năng tiếp cận tri thức. "Nhưng mặt trái cũng rất đáng lo ngại", ông Vinh nói.

Một lớp học tìm hiểu về AI trong trường đại học
ẢNH: NTCC
Theo ông, vấn đề không nằm ở việc người học, đặc biệt là sinh viên (SV) có dùng AI không, mà là công cụ này đang thay thế hoạt động tư duy nào. Nếu dùng AI để giải thích khái niệm khó, phản biện một lập luận hay gợi ý cách cải thiện bài viết, "có thể hỗ trợ học rất tốt". Nhưng nếu SV dùng AI để đọc, nghĩ, viết và giải quyết vấn đề thay mình thì họ đang dần từ bỏ chính những hoạt động làm nên năng lực trí tuệ của con người.
"Khả năng tư duy là một "đặc quyền tiến hóa" đắt giá. Giáo dục chính là quá trình mỗi thế hệ tiếp tục rèn luyện đặc quyền ấy. Vì vậy, sẽ rất nghịch lý nếu chỉ trong vài năm, chúng ta dùng AI loại bỏ những hoạt động mà tổ tiên mất hàng triệu năm tiến hóa mới có được: đọc một văn bản khó, tự xây dựng lập luận, vật lộn với một bài toán, tìm từ để diễn đạt ý tưởng, mắc lỗi rồi tự sửa", tiến sĩ Vinh nói và nhấn mạnh: "Nếu AI loại bỏ toàn bộ "ma sát nhận thức" này, sản phẩm cuối cùng có thể đẹp hơn, nhưng người học lại học được ít hơn".
Chung quan điểm, thạc sĩ Phan Huỳnh Thảo, nhà sáng lập và điều hành trung tâm Anh ngữ YOSE Home, giảng viên thỉnh giảng tại một số trường ĐH, nhận định: "Chúng ta tranh luận rất nhiều về cấm hay không, nhưng lại chưa đi tới cùng nhiều câu hỏi thiết thực hơn: dùng AI thế nào thì vẫn còn là học, ranh giới giữa hỗ trợ và làm thay sẽ nằm ở đâu, khi nào việc sử dụng AI trở thành gian lận và cần làm gì để một người học biết mình đang tiến bộ thật chứ không chỉ tạo ra một sản phẩm trông có vẻ tốt hơn".
Cũng theo cô Thảo, yếu tố "tốc độ" là một trong những nguyên nhân khiến nhiều người chưa sử dụng AI đúng cách, bởi AI phát triển và đi vào đời sống chỉ trong vài năm, nhanh hơn rất nhiều so với tốc độ thích ứng của hệ thống giáo dục. Kết quả là cả người học lẫn người dạy đều được giao một công cụ mạnh mà chưa được tập huấn đầy đủ cách dùng.

Theo báo cáo của chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) 2025 do Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) công bố ngày 8.9, chỉ 4,1% học sinh Việt Nam cho biết hầu như hoặc chưa từng sử dụng các chatbot AI như ChatGPT cho các mục đích học tập
Điều này dẫn tới 3 hậu quả, nhất là khi học trò sử dụng AI thiếu kiểm soát. Thứ nhất, các bạn có thể mất khả năng tự đánh giá năng lực. Chẳng hạn, một bạn dùng AI để liên tục tạo ra những bài viết ở mức 7.0 IELTS, rồi dần tin rằng "mình đang ở trình độ 7.0". "Nhưng đó có thể là một "trần giả", cô nói.
Thứ hai, giáo viên cũng có thể mất đi nguồn dữ liệu rất quan trọng để dạy học, bởi một lỗi sai của học viên là dữ liệu quý để nhận ra bạn ấy đang vướng ở đâu, đang tư duy theo cách nào và cần được hỗ trợ thêm như thế nào. Và thứ ba, AI có thể khiến người học ít được va chạm với sự bất toàn trong thực tế, đặc biệt khi nó luôn cố gắng hiểu người dùng kể cả khi họ viết hoặc nói chưa rõ ràng.
"AI có thể giúp một người làm được nhiều thứ hơn, nhưng giáo dục vẫn phải đảm bảo rằng sau mỗi lần được AI hỗ trợ, người học cũng trở nên có năng lực hơn khi không có AI ở bên cạnh", cô Thảo nêu quan điểm.
Quốc tế đặt "luật chơi" cho AI ra sao ?
Một điểm đáng lưu ý trong kết quả PISA là trong 15 quốc gia nơi tỷ lệ HS sử dụng AI thấp hơn mức trung bình OECD, có sự xuất hiện của các nước nổi tiếng với trào lưu đưa AI vào giáo dục như Trung Quốc hay có nền giáo dục tân tiến như Anh, Canada. Trong đó, 3 nước có HS có tỷ lệ dùng AI thấp nhất là Nhật Bản (60,9%), Anh (71,7%) và Ireland (72,5%).
Theo tiến sĩ Đặng Quang Vinh, việc HS một số nước như Anh ít dùng AI không nằm ở việc các bạn thận trọng hay có ý thức hơn HS VN. Điểm khác biệt lớn hơn nằm ở hệ thống chính sách, quy định học thuật và cách thiết kế đánh giá.
Khi nhà trường quy định rõ AI được phép dùng trong trường hợp nào, phải khai báo ra sao, đâu là hành vi vi phạm, đâu là năng lực SV bắt buộc phải tự chứng minh, các bạn sẽ có xu hướng thận trọng hơn. Ngược lại, nếu ranh giới mơ hồ, hoặc mỗi giảng viên hiểu một kiểu, việc lạm dụng AI "gần như là điều khó tránh khỏi", ông cảnh báo.
Thế nên bài học quan trọng nhất cho VN không phải là hạn chế AI, mà là xây quy định rõ ràng về việc gì con người phải biết, phải hiểu, phải tự làm; việc gì AI được phép hỗ trợ; và việc gì có thể giao cho AI khi đã có năng lực nền tảng, tiến sĩ Vinh đề xuất.

Sinh viên sử dụng công cụ AI trong học tập, nghiên cứu
ảnh: NGỌC LONG
Thực tế, nhiều ĐH trên toàn cầu, nhất là ở các trường danh tiếng, đang ngày càng cẩn trọng hơn với AI. Anh Hoàng Đức Bình, học viên ngành giáo dục Hán ngữ quốc tế ĐH Bắc Kinh (Trung Quốc), cho biết giảng viên trường anh quy định "rất nghiêm ngặt" về việc dùng AI, không được dựa dẫm quá mức các công cụ như DeepSeek, Doubao khi làm bài. Song thầy cô lại rất khuyến khích người học nghiên cứu cách ứng dụng AI trong giáo dục, anh kể.
Thạc sĩ Tô Võ Minh Phượng, hiện theo học University College Dublin (Ireland), nhận định các giảng viên trường cô cũng đặt ra nhiều "hàng rào" quy định với việc dùng AI, thậm chí từng đánh rớt một trường hợp vì sử dụng AI làm bài thay. Để nêu rõ ranh giới cụ thể, trường phát cho từng bạn quyển sổ tay SV, trong đó nêu rõ quy định về cách dùng AI và thông tin thêm mỗi học phần sẽ có hướng dẫn cụ thể.
"Dùng AI ở trường ĐH cũng giống như tập chạy marathon nhưng mỗi sáng lại trả tiền cho một robot chạy thay. Bạn đến trường để học, và quá trình đó đòi hỏi sự nỗ lực bao gồm việc nghiêm túc rèn luyện tư duy phản biện thông qua hoạt động viết. Khi sử dụng AI để tóm tắt và/hoặc phân tích tài liệu, tìm kiếm tư liệu hay viết bài, bạn không trực tiếp thực hiện những công việc này", tài liệu của trường nêu.
PGS-TS Lê Nguyễn Hoàng Giang, giảng viên chương trình cao học về giáo dục, khoa Giáo dục và công tác xã hội ĐH Thompson Rivers (Canada), cho biết trường cô đã thành lập một ủy ban về AI, nêu rõ những điều được và không được làm với AI, kèm theo những chế tài xử lý nếu vi phạm. "Nhưng thực tế học kỳ nào cũng đều có SV bị phát hiện dùng AI sai quy định", cô Giang kể.
Nhiều nhà khoa học chưa từng dùng AI
GS Sarah Pink, Giám đốc FUTURES Hub và Phòng thí nghiệm nghiên cứu công nghệ mới nổi của ĐH Monash (Úc), thông tin với Thanh Niên bên lề Hội thảo quốc tế về nghiên cứu Nam bán cầu rằng dù thực hiện một số công trình về AI nhưng bà lại chưa từng sử dụng AI bao giờ. "Thậm chí tôi còn không biết giao diện của ChatGPT trông như thế nào và tôi biết một số nhà khoa học khác cũng như vậy", bà kể.
Theo bà, AI vừa có thể là công cụ hỗ trợ nghiên cứu, vừa là đối tượng để các nhà khoa học khám phá. Thậm chí AI có thể thành một bên tham gia khác song song với người thật trong các đề tài nghiên cứu. Nó mang đến những khả năng, nhưng cũng còn đó các hạn chế.
Bình luận (0)