Phần lớn cán bộ quản lý hoặc phụ trách tuyển sinh của các trường đại học (ĐH) đều chia sẻ ủng hộ chủ trương của Bộ GD-ĐT trong việc giảm số lượng phương thức xét tuyển đối với từng ngành hoặc chương trình đào tạo. Tuy nhiên, họ không ủng hộ giải pháp cực đoan là chỉ cho phép 1 phương thức mỗi ngành, dù lộ trình thực hiện là năm 2028.
Mỗi ngành 1 phương thức, vì sao rủi ro ?
Chia sẻ với Báo Thanh Niên, PGS Nguyễn Thị Hòa, Trưởng phòng Truyền thông - Tuyển sinh, Trường ĐH Giao thông vận tải, cho rằng nếu chỉ chọn một con đường thì yếu tố rủi ro là rất lớn với cả thí sinh (TS) và nhà trường.
PGS Hòa phân tích: "Về phía nhà trường, nếu việc thu thập dữ liệu chưa đầy đủ, phân tích dữ liệu chưa chính xác sẽ dẫn đến nguy cơ lựa chọn phương thức tuyển chưa phù hợp, do đó tuyển không đạt yêu cầu (có thể tuyển thiếu chỉ tiêu hoặc chất lượng TS không được như mong muốn). Điều này chỉ nhận ra khi kết thúc mùa tuyển sinh hoặc sau khi tân sinh viên đã vào học được một thời gian.
Về phía TS, nếu các trường sử dụng nhiều hơn 1 phương thức xét tuyển mỗi ngành thì sẽ tạo thêm cơ hội trúng tuyển cho các em, giống như để tới đích có nhiều con đường, không may đường này còn có đường kia hỗ trợ. Nếu chỉ còn 1 con đường thì rõ ràng đó là rủi ro lớn".
PGS Hòa nói thêm: "Mặt khác, sẽ xảy ra tình huống cùng một ngành nhưng mỗi trường lựa chọn một phương thức, TS nếu đăng ký xét tuyển theo ngành thì sẽ đăng ký vào nhiều trường. Vì thế mỗi TS vẫn phải chuẩn bị rất nhiều tài nguyên (để đáp ứng các bộ tiêu chí đa dạng của các trường khác nhau), nếu không các em sẽ không đạt mục tiêu xét theo ngành với thứ tự từ trường top cao đến thấp phù hợp định hướng nghề nghiệp của bản thân".

Thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT năm 2026 để xét tuyển vào đại học
ẢNH: TUẤN MINH
Bà Nguyễn Thị Thu Hà, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Thăng Long, cũng nhận định quy định mỗi ngành chỉ dùng một phương thức từ năm 2028 sẽ gây ra 2 rủi ro lớn cho toàn hệ thống. Đầu tiên là triệt tiêu các bài thi đánh giá năng lực, tư duy. Số lượng TS tham gia các kỳ thi đánh giá năng lực không nhiều và thường ưu tiên đăng ký vào các trường top trên. Nếu chỉ được chọn 1 phương thức, các trường còn lại sẽ không dám mạo hiểm chọn phương thức đánh giá năng lực vì lo sợ rủi ro không tuyển đủ chỉ tiêu. Hậu quả là TS thi năng lực bị mất cơ hội trúng tuyển, còn các trường bỏ lỡ nguồn tuyển chất lượng.
Rủi ro thứ 2 là bùng nổ phương thức xét học bạ THPT. Khi buộc phải chọn 1 phương thức, các trường nhóm giữa và nhóm dưới sẽ co cụm chọn giải pháp an toàn nhất là xét học bạ THPT. Việc lạm dụng phương thức xét học bạ sẽ dẫn đến nguy cơ làm giảm chất lượng đầu vào của giáo dục ĐH.
"Đề nghị Bộ GD-ĐT cho phép các trường áp dụng tối thiểu 2 phương thức xét tuyển cho mỗi ngành (thay vì 1 phương thức) để vừa mở rộng cơ hội cho TS vừa giúp nhà trường tuyển chọn được những TS có tiềm năng hơn", bà Hà nói.
Đâu là ranh giới giữa quản lý nhà nước và quyền tự chủ của trường ĐH ?
Theo PGS Lê Hiếu Học, Trưởng khoa Khoa học và Công nghệ giáo dục, ĐH Bách khoa Hà Nội, với chủ trương thu gọn số phương thức tuyển sinh, vấn đề quan trọng không chỉ là nhiều hay ít phương thức. Nếu cùng một ngành tuyển bằng điểm thi tốt nghiệp THPT, học bạ, kỳ thi đánh giá năng lực và các hình thức kết hợp khác nhưng không chứng minh được các thang điểm có thể đối sánh hợp lý, thì rõ ràng có vấn đề về công bằng và chất lượng. Tuy nhiên, cũng cần đặt câu hỏi: "Vấn đề nằm ở chỗ có quá nhiều phương thức, hay ở chỗ chất lượng và khả năng đối sánh giữa các phương thức chưa được chứng minh đầy đủ?".

Thí sinh tham dự kỳ thi đánh giá năng lực do ĐH Quốc gia TP.HCM tổ chức
ảnh: Nhật Thịnh
PGS Học phân tích: "Một chương trình có nhiều phương thức chưa chắc tuyển sinh kém hơn chương trình chỉ có một phương thức. Ngược lại, một phương thức cũng chưa chắc đánh giá đầy đủ những năng lực cần thiết. Điều quan trọng hơn là phương thức đó đánh giá năng lực gì; có liên quan đến khả năng học thành công trong chương trình hay không; kết quả có đủ tin cậy không; và sinh viên được tuyển từ các nguồn khác nhau sau khi nhập học có kết quả thế nào".
Cũng theo PGS Học, từ vấn đề này nảy sinh câu hỏi: đâu là ranh giới giữa quản lý nhà nước và quyền tự chủ của trường ĐH? Bộ cần đặt ra các nguyên tắc chung, chuẩn tối thiểu và yêu cầu về công bằng, minh bạch, chất lượng. Nhưng các trường cũng cần có trách nhiệm chứng minh bằng dữ liệu rằng phương thức tuyển sinh của mình thực sự phù hợp với chương trình. Nói cách khác, câu hỏi không nên chỉ là "Bộ quản nhiều hay quản ít?", mà quan trọng hơn là "Bộ quản lý điều gì, trường được tự chủ đến đâu và các trường phải giải trình bằng những bằng chứng nào?".
Điều này càng quan trọng khi nhìn tuyển sinh từ yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Tuyển sinh vì thế không chỉ là phân phối chỗ học, mà còn là quá trình nhận diện và lựa chọn người học phù hợp để tiếp tục đào tạo thành nguồn nhân lực mà xã hội cần.
Cũng theo PGS Học, một yếu tố khác rất quan trọng là tính ổn định của chính sách. Ngay cả một thay đổi hợp lý về chuyên môn cũng cần có lộ trình đủ rõ và đủ sớm để người học thích ứng. "Nên chăng, vai trò của Bộ GD-ĐT trong tuyển sinh cần tập trung vào 3 vấn đề lớn. Một là bảo đảm công bằng không chỉ ở khâu xét tuyển mà còn trong cơ hội học tập. Hai là bảo đảm chất lượng tuyển sinh, nhưng không chỉ bằng cách giới hạn số phương thức mà bằng việc yêu cầu các phương thức phải thực sự đánh giá đúng năng lực. Ba là tạo khuôn khổ để các trường lựa chọn được người học phù hợp, đồng thời chịu trách nhiệm về quyết định tuyển sinh của mình", PGS Học nói và đặt vấn đề. "Làm thế nào để xây dựng một hệ thống tuyển sinh vừa đánh giá đúng năng lực, vừa bảo đảm công bằng, vừa tôn trọng quyền tự chủ của các trường và lựa chọn được người học phù hợp để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao?", PGS Học nói thêm.
Thí sinh có IELTS vẫn lợi thế
TS Lê Anh Đức, Trưởng phòng Quản lý đào tạo, ĐH Kinh tế quốc dân, cho biết từ tháng 6 nhà trường đã công bố phương hướng tuyển sinh năm 2027 và sẽ công bố đề án tuyển sinh chính thức vào tháng 12 tới với các nội dung phù hợp với các thay đổi của quy chế tuyển sinh.
Trong dự thảo điều chỉnh chính sách tuyển sinh của Bộ GD-ĐT có nội dung gây chú ý là sử dụng IELTS trong xét tuyển như thế nào. Bộ đã phân tích dữ liệu lớn, và kịp thời thay đổi, điều chỉnh chính sách phù hợp thực tiễn đảm bảo các mục tiêu công bằng trong tuyển sinh của toàn hệ thống.
Sự điều chỉnh nói trên không phủ nhận vai trò quan trọng của IELTS. Chứng chỉ này vẫn là một lợi thế của TS trong xét tuyển: quy đổi điểm để thay thế môn tiếng Anh trong kỳ thi tốt nghiệp THPT; là điều kiện cần khi xét tuyển vào nhiều chương trình đào tạo, đặc biệt là các chương trình giảng dạy và học tập bằng tiếng Anh.
Ngoài ra, chứng chỉ tiếng Anh theo chuẩn quốc tế phản ánh kỹ năng ngôn ngữ đạt chuẩn của TS. Đây là lợi thế giúp TS tiếp cận các nguồn học liệu, tài liệu phong phú, đa dạng bằng tiếng Anh, thích ứng tốt trong môi trường học tập có yếu tố quốc tế có sử dụng tiếng Anh.
Điều chỉnh của Bộ cũng không làm mất đi quyền tự chủ của các cơ sở đào tạo trong tuyển sinh. Cơ sở đào tạo có thể sử dụng chứng chỉ tiếng Anh trong tuyển sinh. Thứ nhất, có thể quy đổi điểm để thay thế môn tiếng Anh trong kỳ thi tốt nghiệp THPT hoặc kỹ năng tiếng Anh trong các kỳ xét tuyển sinh. Thứ hai, điều kiện đầu vào tuyển sinh của các chương trình, đặc biệt là các chương trình đào tạo với các tỷ lệ môn học nhất định được giảng dạy và học tập bằng tiếng Anh. Thứ ba, là tiêu chí dùng trong xét tuyển vào các chương trình đào tạo liên kết quốc tế hoàn toàn học bằng tiếng Anh theo yêu cầu của chương trình đào tạo.
Sự thay đổi chính sách đó không ảnh hưởng đến tuyển sinh của ĐH Kinh tế quốc dân. Nếu nội dung này được chính thức ban hành thì TS có IELTS nếu đăng ký xét tuyển vào trường vẫn có lợi thế lớn đáng kể.











Bình luận (0)