Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng:

Từ phá thế 'bao vây' đến định hình vị thế

Hải Triều
Hải Triều
16/01/2026 05:28 GMT+7

40 năm đổi mới là chặng đường chứng kiến sự chuyển biến mạnh mẽ về tư duy và hành động của Đảng trong công tác đối ngoại. Từ chủ trương 'mở cửa' để phá thế bao vây cấm vận, VN từng bước hội nhập sâu, rộng; không chỉ tuân thủ luật chơi mà còn chủ động đóng góp, xây dựng và định hình các chuẩn mực quốc tế.

Chủ động "mở cửa"

Khi khởi xướng công cuộc Đổi mới tại Đại hội VI (1986), Đảng đã xác định cần thay đổi căn bản về tư duy, trong đó có tư duy về đối ngoại. Thời điểm này, dù thuật ngữ "hội nhập" chưa được đưa ra nhưng tư duy "mở cửa" nền kinh tế, tranh thủ vốn và kỹ thuật bên ngoài đã được xác lập. Đây là bước ngoặt thay đổi trong nhận thức, khi Đảng coi mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại là yêu cầu khách quan chứ không chỉ là giải pháp tình thế.

Đến Đại hội VII (1991), với tuyên bố "VN muốn là bạn với tất cả các nước", Đảng chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, phá thế bị bao vây cấm vận. Hàng loạt các cột mốc lịch sử được thiết lập, như gia nhập ASEAN và bình thường hóa quan hệ với Mỹ năm 1995. Cùng đó là việc bình thường hóa quan hệ với các định chế tài chính toàn cầu, như Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới năm 1993.

Đại hội Đảng XIV: Từ phá thế “bao vây” đến định hình vị thế - Ảnh 1.

Cán bộ, chiến sĩ Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 7 và Đội Công binh số 4 lên đường thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình tại Phái bộ LHQ ở Nam Sudan và khu vực Abyei tháng 9.2025

ẢNH: NGỌC DƯƠNG

Giai đoạn 1996 - 2010 là khoảng thời gian chứng kiến sự hình thành và phát triển của khái niệm "hội nhập". Lần đầu tiên, thuật ngữ này được đề cập trong Văn kiện Đại hội VIII (1996). Lúc này, Đảng xác định xây dựng nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, thể hiện sự chủ động thích ứng thay vì chỉ "mở cửa" thụ động.

Sang Đại hội IX (2001) và Đại hội X (2006), Đảng chủ trương "chủ động hội nhập kinh tế quốc tế", coi đây là trung tâm để phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Kết quả đỉnh cao của giai đoạn này là việc VN chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007, đưa nền kinh tế tham gia sâu vào sân chơi toàn cầu. Và bước ngoặt lớn diễn ra từ Đại hội XI (2011), khi Đảng quyết định chuyển từ "hội nhập kinh tế" sang "hội nhập quốc tế toàn diện" trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, quốc phòng - an ninh, văn hóa - xã hội. Đại hội XII (2016) tiếp tục đẩy mạnh tiến trình này thông qua việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP và EVFTA, đòi hỏi cải cách thể chế sâu rộng trong nước.

Tới Đại hội XIII (2021), một lần nữa, tư duy đối ngoại được nâng tầm khi Đảng xác định hội nhập phải "toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả" với điểm nhấn đặc biệt là giải quyết biện chứng mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Độc lập tự chủ là nền tảng để hội nhập hiệu quả, và hội nhập là phương thức để củng cố sức mạnh tổng hợp quốc gia.

Theo TS Nguyễn Thu Phương (Tạp chí Cộng sản), mỗi kỳ đại hội của Đảng đều đánh dấu một bước phát triển mới trong tư duy về hội nhập quốc tế, phản ánh sự gắn kết chặt chẽ giữa yêu cầu khách quan của tình hình thế giới và tầm nhìn chiến lược của Đảng trong từng thời kỳ. "Chính sự vận động không ngừng đổi mới ấy đã hình thành nên các giai đoạn phát triển rõ rệt, cho thấy rõ sự bổ sung, hoàn thiện và nâng tầm tư duy hội nhập quốc tế của Đảng", TS Phương nhận định.

Tầm nhìn chiến lược cho kỷ nguyên vươn mình

Trong bối cảnh thế giới biến động khôn lường và đất nước đứng trước ngưỡng cửa của những cơ hội lịch sử, Bộ Chính trị khóa XIII đã ban hành Nghị quyết 59-NQ/TW "Về hội nhập quốc tế trong tình hình mới". Trong bài viết có tiêu đề Vươn mình trong hội nhập quốc tế, Tổng Bí thư Tô Lâm đánh giá bên cạnh kế thừa các giá trị đã được khẳng định, Nghị quyết 59 đã nắm bắt được dòng chảy của sức mạnh thời đại và "nâng tầm" hội nhập quốc tế với những quan điểm mang tính cách mạng, tính đột phá, tính dân tộc, tính khoa học, tính thời đại cao.

Điểm cốt lõi của nghị quyết, được TS Nghiêm Thị Thanh Thúy (Tạp chí Cộng sản), chỉ ra là sự chuyển dịch từ tư duy "tham gia sâu" sang "tham gia chủ động và nâng tầm". "VN không chỉ tuân thủ các quy tắc của hệ thống quốc tế, mà từng bước góp phần định hình chuẩn mực hợp tác trong các không gian mới", bà Thúy phân tích. Theo bà, cùng với sự phát triển của đất nước, nhận thức của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn.

Dẫn lại quan điểm của Tổng Bí thư Tô Lâm, TS Nguyễn Thu Phương cho biết nghị quyết xác định hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và cả hệ thống chính trị, trong đó tâm thế phải chuyển từ "xin nhập, tham gia" sang "chủ động đóng góp và xây dựng". Đây là quan điểm mang tính cách mạng, khẳng định vị thế mới của VN là một đối tác có trách nhiệm, sẵn sàng đóng góp vào công việc chung của cộng đồng quốc tế. Nói về điều này, Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Vũ nhìn nhận đây là bước chuyển quan trọng, phản ánh sự trưởng thành về vị thế và tầm vóc của VN sau nhiều thập niên hội nhập quốc tế sâu rộng.

Đáng chú ý, theo ông Nguyễn Minh Vũ, nghị quyết đã quán triệt tinh thần triển khai "đồng bộ, chủ động, tích cực, toàn diện, sâu rộng, chất lượng và hiệu quả" các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế, trên tất cả các mặt trận, với sự tham gia của tất cả các "binh chủng" đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân, đối ngoại quốc phòng - an ninh, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa, đối ngoại đa phương, đối ngoại địa phương...

"Tựu trung, Nghị quyết 59 đã mở ra tầm nhìn mới, toàn diện và hiện đại cho tư duy hội nhập quốc tế của Đảng ta, thiết lập khuôn khổ lý luận và định hướng thực tiễn rõ ràng để đối ngoại trở thành một trụ cột quan trọng, động lực chiến lược trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc", Thứ trưởng Nguyễn Minh Vũ nhìn nhận.

Từ phá thế “bao vây” đến định hình vị thế - Ảnh 1.

ẢNH: BNG

Định hướng chiến lược và ưu tiên chính sách được nêu trong các dự thảo văn kiện Đại hội XIV sẽ tiếp tục tạo nền tảng cho quá trình hội nhập sâu rộng và phát triển nhanh, bền vững của VN. Các cơ quan phát triển LHQ sẵn sàng tiếp tục hỗ trợ các cơ quan, địa phương tại VN triển khai các định hướng lớn của Đảng về phát triển đất nước thông qua các khuôn khổ, dự án hợp tác.

Thành công của VN trong đảm bảo an sinh xã hội và phát triển kinh tế mạnh mẽ đã truyền cảm hứng không chỉ ở con số mà còn thể hiện ở sự quyết tâm trong việc đảm bảo tăng trưởng, những chính sách được triển khai thực tiễn, đặt con người vào trung tâm của phát triển và củng cố thể chế. Với những kết quả tích cực trong thúc đẩy các Mục tiêu phát triển bền vững của LHQ, VN sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đạt được những bước tiến đột phá trong kỷ nguyên phát triển mới, khẳng định vai trò ngày càng quan trọng trong các cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu.

Pauline Tamesis, Điều phối viên thường trú LHQ tại VN

Từ phá thế “bao vây” đến định hình vị thế - Ảnh 2.

ẢNH: NVCC

Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Quân ủy T.Ư và Bộ Quốc phòng, những năm qua, công tác đối ngoại biên phòng luôn là điểm sáng trong công tác đối ngoại quốc phòng.

Dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; xây dựng quân đội hiện đại, tinh, gọn, mạnh và đặc biệt ở vùng biên giới phải thực hiện "nhiệm vụ kép" giữ vững chủ quyền song hành với phát triển kinh tế biên mậu. Để làm tốt "nhiệm vụ kép" này, công tác đối ngoại biên phòng phải có chiều sâu, thực chất hơn nữa, thông qua tuần tra liên hợp, hội đàm định kỳ và đặc biệt là đối ngoại nhân dân. Bởi xây dựng biên giới hòa bình, ổn định không chỉ là nhiệm vụ của lực lượng vũ trang, đó còn là sức mạnh tổng hợp từ các hoạt động giao lưu nhân dân, giao lưu văn hóa, thương mại biên giới.

Vùng biên giới vững chắc khi đời sống người dân ấm no, hạnh phúc. Thực tế tại xã Y Tý cho thấy lối mở Y Tý (VN) - Ma Ngán Tý (Trung Quốc) được khôi phục sau đại dịch Covid-19 đã tạo ra luồng sinh khí mới trong phát triển kinh tế tại địa phương. Khi người dân biên giới hai nước được sử dụng giấy thông hành để trao đổi hàng nông sản, thăm thân và buôn bán hàng hóa không chỉ là phát triển kinh tế mà còn góp phần gây dựng niềm tin vào đường lối của Đảng và Nhà nước. Chúng tôi mong muốn trong 5 năm tới, Đảng, Nhà nước tiếp tục ưu tiên nguồn lực đầu tư vào các dự án hạ tầng, đẩy mạnh hoạt động hợp tác thương mại biên giới. Đồng thời, có những quyết sách chiến lược phát triển AI ứng dụng vào quản lý, bảo vệ biên giới; đầu tư mạnh nguồn lực để thực hiện "nhiệm vụ kép" giữ vững phên giậu Tổ quốc.

Thượng úy Vương Thành Đạt, Đội trưởng Đội Vũ trang, Đồn biên phòng Y Tý (xã Y Tý, tỉnh Lào Cai)

Đậu Tiến Đạt - Phan Hậu (ghi)

Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.