Có quan điểm cho rằng VN có nhiều câu chuyện, nhưng vẫn còn ít IP thành công. Quan điểm của bà về nhận định này như thế nào?
Bà Dư Thị Mai Linh: Theo chúng tôi, nhận định này có cơ sở. VN sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa đặc biệt phong phú: hàng nghìn năm lịch sử, hệ thống di sản trải rộng trên cả nước, kho tàng thần thoại, tín ngưỡng, lễ hội, làng nghề, mỹ thuật, kiến trúc và văn hóa dân gian. Mỗi vùng đất đều có những nhân vật, biểu tượng và câu chuyện riêng. Tuy nhiên, một câu chuyện hay không đồng nghĩa với việc sẽ trở thành một IP thành công.

Bà Dư Thị Mai Linh
Ảnh: NVCC
Để hình thành một IP, chất liệu văn hóa cần được nghiên cứu, chọn lọc và chuyển hóa thành một hệ thống có khả năng nhận diện, kể chuyện, sáng tạo sản phẩm và tiếp tục phát triển trong thời gian dài. Một IP mạnh thường phải có biểu tượng đặc trưng, nhân vật hoặc hình tượng trung tâm, hệ giá trị rõ ràng, ngôn ngữ thiết kế nhất quán và một "thế giới" đủ rộng để công chúng có thể bước vào bằng nhiều cách: qua sản phẩm, nội dung, hoạt động trải nghiệm, không gian trưng bày hay các hình thức giải trí.
Khoảng cách từ một câu chuyện văn hóa đến một IP sống được trên thị trường vì thế rất dài. Nó đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của nhiều năng lực: nghiên cứu văn hóa, quản trị quyền sở hữu trí tuệ, thiết kế, sản xuất, phân phối, truyền thông và phát triển cộng đồng công chúng. Trong thực tế, chúng ta thường mới khai thác di sản ở tầng hình ảnh. Một biểu tượng quen thuộc được đưa lên áo, túi, cốc hoặc đồ lưu niệm, nhưng chưa được xây dựng thành hệ thống nhận diện và câu chuyện có khả năng mở rộng. Sản phẩm vì vậy dễ dừng ở mức quà lưu niệm đơn lẻ, khó tạo thành một IP có đời sống lâu dài.
Theo chúng tôi, vấn đề của VN là còn thiếu những cơ chế và doanh nghiệp đủ kiên nhẫn để đưa câu chuyện đi hết hành trình trở thành IP.
Thường dừng lại ở việc in áo, in cốc, hệ sản phẩm IP của chúng ta có đang nghèo nàn không và tại sao lại như vậy?
Đúng. Thực trạng hiện nay, hệ sản phẩm IP của chúng ta đang cực kỳ nghèo nàn và gần như bị "đóng băng" ở việc in áo thun, cốc sứ, sổ tay... Đó là hậu quả của tư duy IP ngắn hạn và thiếu chiến lược. Tôi giải thích chi tiết 3 nguyên nhân gốc rễ:
Thứ nhất, chủ sở hữu IP chưa hiểu IP là "thương hiệu sống", không phải cái logo. Ở Trung Quốc, các IP lớn như The Legend of Zelda (thuộc sở hữu của hãng Nintendo - Nhật Bản và Tencent được ủy quyền phân phối chính thức tại thị trường Trung Quốc - PV) hay các bảo tàng như Cố Cung đều có "style guide" (bộ hướng dẫn phong cách) bài bản. Họ chia IP thành hệ sản phẩm: đồ gia dụng, thời trang cao cấp, đồ sưu tầm, F&B, trải nghiệm số, game... Mỗi dòng sản phẩm là một câu chuyện. Trong khi đó, bên mình thường chỉ lấy một hình ảnh đẹp từ truyện hay phim rồi "bê nguyên xi" lên áo. Như vậy thì không thể bán được hàng giá trị gia tăng cao, cũng không hấp dẫn được nhà sản xuất lớn vì họ cần một hệ sinh thái, chứ không phải vài mẫu áo.

Du khách với sản phẩm IP của Văn Miếu
ẢNH: ANN GROUP
Thứ hai, thiếu hạ tầng sản xuất - cấp phép chuyên nghiệp. Doanh nghiệp Việt vừa sợ vi phạm bản quyền, vừa không quen trả phí bản quyền đàng hoàng. Khi thị trường nhỏ, chi phí thiết kế khuôn mẫu phức tạp (đồ chơi mô hình, đồ điện tử...) cao, họ chỉ dám làm những món hàng dễ sản xuất và dễ bị làm nhái là áo, cốc. Giả dụ, nếu muốn làm mô hình nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh, cần đầu tư khuôn, quản lý chất lượng, mà chỉ cần một xưởng nhái làm kém chất lượng là "vỡ trận". Vì vậy, nhà sáng tạo không dám đầu tư, hệ sản phẩm mãi nghèo nàn.
Thứ ba, người tiêu dùng chưa sẵn sàng chi trả cho hàng "authentic" ngoài mấy món quà lưu niệm giá rẻ. Thói quen "xài chùa" IP vẫn còn nặng. Nhưng xu hướng đang thay đổi ở giới trẻ, đặc biệt là các fandom trung thành. Đây là tín hiệu tốt.
Câu chuyện bảo vệ bản quyền đang rất khó với nghệ sĩ VN. Khi chi phí thuê luật sư sở hữu trí tuệ khá cao, rất ít nghệ sĩ có khả năng tiếp cận dịch vụ này. Theo bà, có cách nào giải quyết vấn đề không?
Phí tư vấn và tranh tụng của luật sư sở hữu trí tuệ xứng tầm thường vượt quá khả năng chi trả của phần lớn nghệ sĩ độc lập. Nhưng cũng có những cách giải quyết rất thực tế, ít tốn kém hoặc thậm chí miễn phí, nếu chúng ta biết tổ chức.

Từ Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương cùng hình tượng chim Lạc có nhiều sản phẩm IP với hình ảnh chú chim Lạc Lạc: sổ tay, miếng dán tủ lạnh, khăn, thú nhồi bông...
ẢNH: ANN GROUP
Chẳng hạn, có thể thiết lập mô hình "luật sư cộng đồng" và "phòng khám" pháp lý nghệ thuật. Tôi đã thấy ở một số trường đại học luật tại TP.HCM, sinh viên và giảng viên luật sẵn sàng trợ giúp miễn phí. Các hội luật gia, đoàn luật sư có thể lập "Clinic IP cho nghệ sĩ" mỗi tháng 1 - 2 buổi. Nghệ sĩ đem câu hỏi đến, được tư vấn cơ bản miễn phí: đăng ký quyền tác giả thế nào, gửi thư cảnh cáo ra sao, thu thập chứng cứ vi phạm... Chi phí tổ chức có thể được tài trợ bởi các quỹ văn hóa hoặc doanh nghiệp yêu nghệ thuật.
Một cách khác là tận dụng tổ chức đại diện tập thể. Thay vì từng nghệ sĩ đơn thương độc mã, các hội nghề nghiệp cần thiết lập quỹ bảo vệ bản quyền chung. Phí hội viên mỗi năm vài trăm nghìn đồng, nhưng khi có chuyện, luật sư của hiệp hội sẽ là "kiếm và khiên" cho cả cộng đồng. Đó là cách làm kinh tế nhất.
Cũng có thể làm theo cách hợp tác với luật sư theo cơ chế "không thắng không thu tiền" và chuyên nghiệp hóa khâu cấp phép. Khi nghệ sĩ có sản phẩm IP tiềm năng, thay vì tự chống vi phạm, hãy bán license (quyền sử dụng) cho một công ty khai thác chuyên nghiệp.
Bình luận (0)