81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2.9 (1945 - 2026)

Hành trình 81 năm hiện thực hóa khát vọng Việt Nam

"Có những phút làm nên lịch sử", câu thơ của Tố Hữu về một sự kiện khác nhưng cũng rất đúng với thời khắc 2.9.1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên của độc lập dân tộc gắn liền với quyền làm chủ của nhân dân Việt Nam.

Từ thời khắc ấy, khát vọng lớn nhất của dân tộc Việt Nam không chỉ là giành lại quyền tồn tại như một quốc gia độc lập, mà còn là làm thế nào để giữ vững nền độc lập, xây dựng đất nước thống nhất, giàu mạnh và khẳng định vị thế trên trường quốc tế.

Hành trình 81 năm hiện thực hóa khát vọng Việt Nam - Ảnh 1.

Đông đảo nhân dân tập trung tại Quảng trường Ba Đình nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2.9.1945

Ảnh: tư liệu TTXVN

Độc lập dân tộc - giá trị trường tồn

Hơn 80 năm qua, dù mỗi thời kỳ có một nhiệm vụ khác nhau, nhưng lịch sử Việt Nam đều hướng tới một mục tiêu xuyên suốt: bảo vệ và phát huy thành quả của nền độc lập dân tộc.

Cách mạng Tháng Tám 1945 trao cho dân tộc Việt Nam quyền tự quyết sau gần một thế kỷ dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân. Suốt 30 năm chiến đấu giải phóng, thống nhất đất nước (1945 - 1975) là hành trình đầy gian khổ nhằm bảo vệ thành quả độc lập và hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước. 

Công cuộc Đổi mới từ năm 1986 đã mở ra giai đoạn phát triển mới là xây dựng nền kinh tế năng động, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, chủ động hội nhập quốc tế và từng bước hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển. Trong giai đoạn phát triển mới, trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và biến động khó lường của thế giới, giá trị của việc giữ vững độc lập dân tộc như một nền tảng vững chắc càng trở nên có ý nghĩa quan thiết với Việt Nam.

Mùa thu năm 1945: Giành độc lập và khai sinh nước Việt Nam mới

Tháng 8.1945 là mốc son chói lọi, thời điểm khởi đầu của nước Việt Nam hiện đại, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là bước chuyển có tính nền tảng, đưa Việt Nam từ vị thế một thuộc địa trở thành một chủ thể độc lập trong luật pháp quốc tế.

Ngay sau khi tuyên bố độc lập, Nhà nước non trẻ phải đối mặt với hàng loạt thử thách nghiêm trọng: nạn đói, nạn dốt, ngân khố trống rỗng, nhiều lực lượng nước ngoài hiện diện trên lãnh thổ và nguy cơ thực dân Pháp quay trở lại xâm lược. 

Trong bối cảnh ấy, Chính phủ lâm thời triển khai nhiều chính sách cấp bách: chống nạn đói, xóa nạn mù chữ, xây dựng chính quyền các cấp và tổ chức Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946. Những quyết sách ấy cho thấy độc lập dân tộc không chỉ là tuyên bố thoát khỏi ách thống trị ngoại bang, mà còn là quá trình xây dựng năng lực tự quản, thiết lập các thiết chế chính trị và pháp lý để bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân.

Chính từ đây, khái niệm độc lập dân tộc được gắn liền với việc xây dựng một nhà nước hiện đại, có chủ quyền và có khả năng tự quyết định con đường phát triển của mình.

Hành trình 81 năm hiện thực hóa khát vọng Việt Nam - Ảnh 2.

Bằng mọi phương tiện thô sơ, các chiến sĩ vận tải vận chuyển hàng ngàn tấn hàng hóa theo tuyến đường Trường Sơn để phục vụ chiến dịch Tây nguyên, mở màn cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975

Ảnh: TTXVN

Bảo vệ nền độc lập và hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước (1946 - 1975)

Cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc vừa giành được thắng lợi trọn vẹn, dân tộc Việt Nam lại bước vào cuộc trường chinh mới để giữ gìn độc lập trước tham vọng tái lập nền thống trị thuộc địa của thực dân. 

Trong bối cảnh đó, ngày 19.12.1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, khẳng định quyết tâm bảo vệ nền độc lập bằng mọi giá. Từ đây, dân tộc Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ gần 9 năm, không chỉ bảo vệ lãnh thổ mà còn bảo vệ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, bảo vệ quyền tồn tại của một quốc gia mới giành độc lập.

Trong điều kiện lực lượng quân sự còn non yếu, kinh tế nghèo nàn và bị bao vây nhiều mặt, Việt Nam lựa chọn chiến lược kháng chiến "toàn dân, toàn diện, trường kỳ", dựa vào sức mình là chính. Đây không chỉ là lựa chọn về quân sự mà còn là biểu hiện của tư tưởng độc lập, tự chủ trong bảo vệ đất nước. 

Sức mạnh của cuộc kháng chiến đến từ sự tham gia của toàn dân. Qua từng giai đoạn, thế và lực của cách mạng không ngừng được củng cố. Đỉnh cao của cuộc kháng chiến là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, một chiến thắng quân sự mang tính quyết định, một thắng lợi có ý nghĩa lịch sử đối với phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, một quốc gia thuộc địa ở châu Á đánh bại một cường quốc thực dân bằng chính sức mạnh của mình. Chiến thắng ấy dẫn tới Hiệp định Genève 1954, buộc Pháp công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam.

Tuy nhiên, hòa bình lập lại chưa đồng nghĩa với thống nhất. Theo Hiệp định Genève, đất nước tạm thời bị chia cắt ở vĩ tuyến 17. Miền Bắc khôi phục kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất của chế độ mới và trở thành hậu phương lớn; miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh thống nhất. Hơn 20 năm chiến tranh ngày càng khốc liệt, ý chí thống nhất và khát vọng độc lập là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn gắn kết toàn dân tộc.

Mùa xuân năm 1975 đánh dấu bước ngoặt quyết định. Chỉ trong chưa đầy 2 tháng, từ Chiến dịch Tây nguyên đến Chiến dịch Hồ Chí Minh, chính quyền Sài Gòn sụp đổ. Ngày 30.4.1975 kết thúc hơn 30 năm chiến tranh, hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước.

Nếu Cách mạng Tháng Tám 1945 đem lại quyền độc lập, thì thắng lợi mùa xuân năm 1975 đem lại không gian thống nhất để hiện thực hóa quyền độc lập ấy. Đây chính là bước chuyển quan trọng từ nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập sang nhiệm vụ kiến tạo một quốc gia phát triển. Đó cũng là cầu nối giữa thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc với thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế gắn với việc xây dựng một quốc gia hùng cường, thịnh vượng và hạnh phúc.

Hành trình 81 năm hiện thực hóa khát vọng Việt Nam - Ảnh 3.

Trên nền tảng độc lập, tự chủ được vun đắp qua nhiều thế hệ, Việt Nam trong hành trình hiện thực hóa khát vọng hùng cường, phồn vinh và hạnh phúc

Ảnh: Tuấn Minh

Từ thống nhất đất nước đến công cuộc Đổi mới

Hòa bình, thống nhất là tiếng reo vang của dân tộc Việt Nam sau nhiều giai đoạn chia lìa. Nhưng đây cũng là lúc Việt Nam bước vào giai đoạn hậu chiến với những thử thách cam go chưa từng thấy. Vết thương chiến tranh chưa kịp lành thì tiếng súng lại vang trên bầu trời biên giới. Đất nước vừa hàn gắn vừa phải tiếp tục chiến đấu. Đồng thời, mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung bộc lộ nhiều hạn chế: sản xuất trì trệ, năng suất thấp, thiếu lương thực, lạm phát cao, đời sống người dân khó khăn.

Trước tình hình đó, Đổi mới trở thành nhiệm vụ cấp bách. Đại hội VI của Đảng năm 1986 đánh dấu bước ngoặt về tư duy phát triển. Đổi mới là sự kế thừa logic của sự nghiệp giành và giữ độc lập. Nếu trong chiến tranh, sức mạnh dân tộc được huy động để bảo vệ Tổ quốc, thì trong hòa bình, sức mạnh ấy được chuyển hóa thành động lực phát triển kinh tế, khoa học, giáo dục và văn hóa. Quan trọng nhất là chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế: xóa bỏ bao cấp, trao quyền chủ động cho các thành phần kinh tế, phát huy vai trò của thị trường, đồng thời giữ vững vai trò quản lý của nhà nước. Đi cùng với đó là đổi mới tư duy đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa.

Nhờ Đổi mới, đến cuối thế kỷ 20, Việt Nam đã cơ bản vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài nhiều năm, từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan hệ đối ngoại và tạo lập những tiền đề quan trọng cho giai đoạn tăng trưởng nhanh. Đó là bước chuyển có ý nghĩa lịch sử: từ một đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh sang một quốc gia lấy phát triển làm trung tâm, từ bảo vệ độc lập bằng ý chí chiến đấu sang củng cố độc lập bằng sức mạnh của một nền kinh tế đang đổi mới và hội nhập.

Chính trên nền tảng ấy, Việt Nam bước vào thế kỷ 21 với một tầm nhìn mới: không chỉ giữ vững độc lập mà còn xây dựng một quốc gia hùng cường, thịnh vượng và có vị thế ngày càng cao trong cộng đồng quốc tế.

Từ hội nhập đến khát vọng hùng cường

Bước vào thế kỷ 21, sau gần 2 thập niên đổi mới, mục tiêu phát triển của Việt Nam được nâng lên tầm cao mới: không chỉ thoát khỏi tình trạng kém phát triển mà còn hướng tới xây dựng một quốc gia thịnh vượng, hiện đại, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế.

Đây là giai đoạn mà khái niệm độc lập dân tộc được bổ sung những nội hàm mới: bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ và toàn vẹn quốc gia, tự chủ về kinh tế, làm chủ khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực có chất lượng, đủ sức chống chịu trước những biến động toàn cầu. Sức mạnh quốc gia ngày càng được xác định bằng năng lực cạnh tranh, trình độ đổi mới sáng tạo và chất lượng phát triển.

Một trong những thành tựu nổi bật là duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao và ổn định. Việt Nam từng bước chuyển trọng tâm từ tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ sang mô hình dựa trên năng suất, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Việc làm chủ công nghệ không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn gắn với bảo đảm an ninh quốc gia trong kỷ nguyên số.

Sự hùng cường của một quốc gia trước hết phải được phản ánh qua chất lượng cuộc sống của người dân. Trong nhiều năm qua, Việt Nam đạt kết quả đáng ghi nhận trong giảm nghèo, mở rộng tiếp cận giáo dục, chăm sóc sức khỏe và bảo đảm an sinh xã hội. Quan điểm "lấy con người làm trung tâm" ngày càng được thể hiện rõ trong các chính sách. Đây cũng là sự kế thừa tự nhiên của tư tưởng độc lập dân tộc: nền độc lập chỉ thực sự có ý nghĩa khi mang lại cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn cho nhân dân.

Những thành tựu về phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, cải cách thể chế, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đã mở ra giai đoạn phát triển mới, trong đó đất nước hùng cường không còn chỉ là khát vọng mà đang từng bước trở thành mục tiêu có cơ sở hiện thực.

Độc lập là điểm khởi đầu, hùng cường là sứ mệnh của tương lai

Lịch sử hiện đại Việt Nam trong hơn 8 thập niên qua là hành trình phát triển liên tục, mỗi giai đoạn kế thừa thành quả của giai đoạn trước. Dù nhiệm vụ thay đổi, nền tảng tư tưởng và mục tiêu chiến lược của dân tộc không hề thay đổi. Độc lập dân tộc luôn là giá trị cốt lõi, là điều kiện tiên quyết để Việt Nam tự quyết định con đường phát triển.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, độc lập bao hàm năng lực tự chủ kinh tế, làm chủ khoa học - công nghệ, sức mạnh giáo dục và khả năng thích ứng. Xây dựng đất nước hùng cường không tách rời sự nghiệp giành và giữ độc lập, mà là sự tiếp nối tự nhiên của tiến trình lịch sử. Nếu thế kỷ 20, sức mạnh quốc gia được thể hiện chủ yếu bằng khả năng bảo vệ độc lập trước chiến tranh xâm lược, thì thế kỷ 21 sức mạnh ấy ngày càng được đo bằng năng lực đổi mới sáng tạo, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả quản trị và chất lượng cuộc sống của người dân.

Độc lập dân tộc là điểm khởi đầu của lịch sử hiện đại Việt Nam; đất nước hùng cường là đích đến của hành trình phát triển trong thế kỷ 21. Trên nền tảng độc lập, tự chủ được vun đắp qua nhiều thế hệ, Việt Nam đang từng bước nâng cao tiềm lực kinh tế, vị thế quốc tế và chất lượng cuộc sống nhân dân, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào giữa thế kỷ 21. Đó là trách nhiệm và sứ mệnh của thế hệ hôm nay và mai sau trong hành trình hiện thực hóa khát vọng về một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh và hạnh phúc.

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.