
GS-TSKH Trần Ngọc Thêm
Ảnh: NVCC
Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với GS-TSKH Trần Ngọc Thêm, Trường ĐH Hùng Vương TP.HCM, nhà khoa học, nhà nghiên cứu đầu ngành của VN trong lĩnh vực Văn hóa học, Ngôn ngữ học, Đông phương học…, về vấn đề này.
Muốn sản phẩm văn hóa hấp dẫn, tri thức lịch sử phải đi trước
Thưa GS-TSKH Trần Ngọc Thêm, là một nhà nghiên cứu văn hóa lâu năm, ông đánh giá thế nào về thực trạng "xâm lấn văn hóa số"?
Trước hết, việc giới trẻ quan tâm đến những điều mới mẻ, đặc biệt là những yếu tố văn hóa từ bên ngoài là một hiện tượng tự nhiên. Bởi đặc trưng của tuổi trẻ là luôn hướng ngoại, thích khám phá những điều mới, những gì nằm ngoài thế giới quen thuộc của mình. Trong bối cảnh hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông số, việc giới trẻ tiếp cận các nền văn hóa bên ngoài thông qua không gian số trở nên dễ dàng và phổ biến hơn rất nhiều.
Vì vậy, tôi cho rằng cách nói "xâm lấn văn hóa số" có phần không phù hợp. Không gian số tự nó không phải là một nền văn hóa ngoại lai; nó là môi trường lưu chuyển và cạnh tranh văn hóa. Vấn đề không nằm ở chỗ người trẻ tiếp xúc nhiều với văn hóa bên ngoài qua không gian số, mà ở sự mất cân đối giữa cách thể hiện văn hóa ngoại nhập và văn hóa dân tộc trên không gian này: văn hóa ngoại nhập thường được chuyển tải hấp dẫn, liên tục và phù hợp với "gu" của người trẻ, trong khi văn hóa dân tộc thì xuất hiện ít hơn, khô cứng hơn hoặc xa lạ với đời sống hiện đại của giới trẻ.
Tiếp nhận cái mới không đồng nghĩa với đánh mất bản sắc. Điều đáng lo chỉ xuất hiện khi người trẻ thiếu năng lực lựa chọn, thiếu nền tảng văn hóa của chính mình và tiếp nhận một cách thụ động. Bởi vậy, thay vì chỉ ngăn chặn, cần nâng cao "sức đề kháng văn hóa" và năng lực sáng tạo để văn hóa VN hiện diện chủ động, hấp dẫn hơn trong chính môi trường số.

Theo GS Trần Ngọc Thêm, Mưa đỏ là một ví dụ tiêu biểu cho việc truyền tải thành công các giá trị văn hóa, lịch sử, tạo được cảm xúc và sức lan tỏa mạnh mẽ đến công chúng, đặc biệt là giới trẻ
Ảnh: ĐPCC
Có thể xem đây là điều đáng tiếc hay không, khi VN cũng sở hữu nhiều giá trị văn hóa đặc sắc nhưng giới trẻ lại có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến văn hóa ngoại nhập?
Nếu so sánh với giới trẻ ở một số quốc gia khác, có thể thấy giới trẻ VN có xu hướng hướng ngoại khá mạnh. Một phần, điều này liên quan đến đặc điểm của văn hóa VN: vốn có gốc nông nghiệp âm tính, thiên về ổn định và hướng nội nên khi bước vào giao lưu hiện đại dễ nảy sinh tâm lý bị hấp dẫn bởi cái mới, cái khác và cái được xem là hiện đại hơn. Nhưng phần quan trọng hơn thuộc về trách nhiệm của người lớn. Các nhà nghiên cứu văn hóa chưa truyền được cảm hứng và niềm say mê đối với văn hóa dân tộc; nhà trường nhiều khi mới truyền đạt kiến thức mà chưa tạo được trải nghiệm; các nhà quản lý chưa tạo đủ điều kiện để những giá trị ấy được quảng bá rộng rãi; còn cách truyền thông và phương tiện thể hiện thì chưa đủ hấp dẫn.
Cùng một giá trị văn hóa, nếu chỉ được giới thiệu như một bài học phải ghi nhớ thì rất khó đi vào đời sống; nhưng nếu được kể bằng một câu chuyện hay, một bộ phim thuyết phục, một trò chơi hấp dẫn hoặc một trải nghiệm sinh động thì có thể tạo sức lan tỏa rất lớn. Vì thế, điều đáng tiếc không phải là giới trẻ yêu thích văn hóa nước ngoài, mà là chúng ta chưa làm cho họ nhận ra văn hóa VN cũng phong phú, sâu sắc và có khả năng đối thoại với đời sống hôm nay.
Vậy là cách truyền tải thiếu hấp dẫn đã khiến kho tàng văn hóa, lịch sử của chúng ta chưa thu hút được như nó đáng phải có, thưa ông?
Nhìn nhận khách quan, nguyên nhân đầu tiên là sự đầu tư chưa tương xứng ở cả nội dung lẫn hình thức thể hiện. Hoạt động nghiên cứu văn hóa và lịch sử tuy đã đạt nhiều thành tựu nhưng vẫn chưa đủ sâu rộng, chưa được chuyển hóa thành một nền tảng tri thức phong phú, đáng tin cậy và dễ sử dụng cho giới sáng tạo. Trong khi đó, một bộ phận người làm công nghiệp văn hóa lại thiếu những phương thức kể chuyện sinh động để lôi cuốn công chúng trẻ.
Bài học từ điện ảnh Hàn Quốc cho thấy, dù tài nguyên văn hóa của họ có nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc, họ vẫn tạo được dấu ấn dân tộc rất riêng trên màn ảnh. Ngược lại, lịch sử VN có vô số nét đặc trưng, nhưng không ít tác phẩm điện ảnh, truyền hình trong nước, từ bối cảnh, phục trang, lời thoại đến ngôn ngữ hình ảnh, vẫn khiến người xem liên tưởng tới phim cổ trang Trung Quốc.
Thực trạng này bắt nguồn từ việc người làm sáng tạo chưa nghiên cứu chu đáo tư liệu dân tộc, lại chịu ảnh hưởng quá lớn từ các sản phẩm nước ngoài; từ biên kịch đến đạo diễn dễ rập khuôn theo mẫu hình có sẵn thay vì tìm tòi nét riêng. Chẳng hạn, lịch sử quân sự VN từng ghi dấu ấn với nghệ thuật dùng voi trận, thủy quân và nhiều loại vũ khí, cách đánh đặc thù; nhưng khi lên phim, hình ảnh xuất hiện vẫn chỉ quanh quẩn với kỵ binh, kiếm, giáo và cách dàn trận mang đậm màu sắc Trung Quốc. Vấn đề cốt lõi là chúng ta còn thiếu tư duy độc lập, tinh thần phản biện và năng lực sáng tạo. Muốn có sản phẩm văn hóa hấp dẫn, tri thức lịch sử phải đi trước một bước, nhưng nghệ thuật không thể chỉ minh họa cho lịch sử; người sáng tạo phải tiêu hóa được tư liệu để tạo nên một thế giới nghệ thuật vừa đáng tin vừa giàu cảm xúc.

MV 'Bắc Bling' của Hòa Minzy truyền cảm hứng làm mới và lan tỏa những giá trị văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc
Ảnh: NVCC
Đổi mới nhưng không làm biến dạng giá trị văn hóa truyền thống
Cần đổi mới cách thể hiện để văn hóa truyền thống đến gần hơn với giới trẻ, nhưng giới hạn của đổi mới đó là gì, thưa ông?
Giới hạn của đổi mới là không được làm sai lệch tinh thần và giá trị cốt lõi của văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, cần phân biệt giá trị cốt lõi với hình thức biểu hiện lịch sử của nó. Hình thức có thể và cần thay đổi để phù hợp với công nghệ, thẩm mỹ và nhu cầu của công chúng hôm nay; còn ý nghĩa nền tảng, ký ức cộng đồng và sự tôn trọng đối với chủ thể văn hóa thì phải được bảo đảm.
Có thể cách tân chất liệu, phối hợp thể loại, kể lại truyền thuyết theo ngôn ngữ mới, nhưng không nên tùy tiện xuyên tạc lịch sử, thiêng hóa giả tạo, dung tục hóa di sản hay khai thác biểu tượng của một cộng đồng mà tách khỏi bối cảnh và tiếng nói của chính cộng đồng ấy. Đổi mới tốt là làm cho truyền thống có thêm sức sống; đổi mới không tốt là mượn tên truyền thống nhưng làm rỗng hoặc biến dạng giá trị của nó.
Từ kinh nghiệm của Trung Quốc hay Hàn Quốc, VN có thể học hỏi gì về cơ chế, chính sách cũng như sự phối hợp giữa nhà nước và khu vực tư nhân để phát triển văn hóa trên không gian số?
Theo tôi, điều quan trọng là phải phát huy mạnh hơn vai trò của khu vực tư nhân. Trên thực tế, nhiều thành tựu của công nghiệp văn hóa đến từ sự năng động của khu vực này. Nhà nước không nên đầu tư dàn trải hoặc làm thay thị trường, mà cần tập trung kiến tạo môi trường: xây dựng chiến lược dài hạn; hoàn thiện pháp luật về bản quyền; mở dữ liệu và tư liệu văn hóa có kiểm soát; hỗ trợ đào tạo nhân lực; đặt hàng minh bạch đối với những lĩnh vực cần dẫn dắt; đồng thời tạo cơ chế thử nghiệm cho các mô hình và công nghệ mới.
Khu vực tư nhân có thế mạnh về nhận biết nhu cầu công chúng, huy động nguồn lực, tổ chức sản xuất và đưa sản phẩm ra thị trường. Giới nghiên cứu và các thiết chế văn hóa cung cấp chiều sâu tri thức; nghệ sĩ và doanh nghiệp chuyển hóa tri thức ấy thành sản phẩm; nhà nước bảo đảm luật chơi công bằng và hỗ trợ những lĩnh vực quan trọng mà thị trường chưa thể tự nuôi dưỡng. Sự phối hợp chỉ hiệu quả khi mỗi bên làm đúng vai trò của mình và người sáng tạo được tôn trọng như chủ thể trung tâm, chứ không chỉ là người minh họa cho các khẩu hiệu có sẵn.
*Xin cảm ơn GS-TSKH Trần Ngọc Thêm!
Bình luận (0)